Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

Các thiên đường thuế của thế giới

Có những quốc gia và vùng lãnh thổ mà ở đó, việc giấu diếm tài sản khỏi sự kiểm soát của các cơ quan thuế vụ có thể được thực hiện mà chẳng tốn mấy công sức.

Đó là những địa chỉ mà không ít những người giàu có và thế giới ngầm tìm đến để gửi gắm khối tiền của khổng lồ hoặc rửa tiền. Đó cũng có thể là nơi hấp dẫn các công ty đăng ký trụ sở kinh doanh để hưởng mức thuế thấp hơn hẳn những nơi khác.

Tạp chí Forbes của Mỹ phối hợp với tổ chức nghiên cứu về minh bạch thuế Tax Justice Network đã liệt kê danh sách 10 địa danh được coi là “thiên đường thuế” hàng đầu của thế giới.

1. Tiểu bang Delaware, Mỹ


Tiểu bang này được xem là một “thiên đường thuế” đối với các doanh nghiệp ngay trên đất Mỹ. Có quá nửa số công ty đại chúng trong danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ (Fortune 500) đăng ký tại bang này để hưởng mức thuế suất thấp và được bảo vệ bí mật thuế má.

2. Luxembourg


Luật của công quốc nhỏ bé trong Liên minh châu Âu (EU) cho phép bảo vệ sự bí mật thông tin về tài sản cho các doanh nghiệp và cá nhân. Đồng thời, thuế suất doanh nghiệp thấp cũng giúp Luxembourg thu hút được những dòng vốn đầu tư khổng lồ.

3. Thụy Sỹ


Thông tin khách hàng được bảo mật là điểm hấp dẫn nhất mà các nhà băng Thụy Sỹ có được đối với khách hàng. Tuy nhiên, cách đây ít lâu, chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama với quyết tâm chống trốn thuế đã gây áp lực buộc ngân hàng lớn nhất của Thụy Sỹ là UBS công bố danh tính hàng loạt khách hàng Mỹ.

4. Cayman Islands


Đây là một “đích ngắm” nữa của Tổng thống Obama trong cuộc chiến chống nạn trốn thuế. Cayman Islands là một quần đảo nhỏ bé, nhưng cũng có thể được xem là một trung tâm tài chính của thế giới, nổi tiếng vì  mức độ bảo mật thông tin cao và thuế suất thấp.

5. Thành phố London, Anh


Thủ đô của xứ sở sương mù là trung tâm của những tranh cãi về vấn đề trốn thuế trên thế giới. Cuộc tranh cãi này tập trung vào những khối tài sản khổng lồ mà các thông tin về chủ nhân được giữ kín như bưng được chuyển tới London.

6. Ireland


Ireland nổi tiếng là quốc gia có thuế suất thấp ở châu Âu. Mọi chuyện suôn sẻ cho tới khi nền kinh tế Ireland suy sụp, vì các ngân hàng nối tiếp nhau đổ vỡ. Khi đó, việc các nhà băng ở Ireland giúp các khách hàng trốn thuế cũng lộ tẩy theo.

7. Bermuda


Bermunda là một địa chỉ đăng ký kinh doanh ưa thích của các công ty Mỹ. Nhiều doanh nghiệp chuyển trụ sở tới các “thiên đường thuế” như Bermunda, trong khi hoạt động thực tế vẫn duy trì trên đất Mỹ.

8. Singapore


Đảo quốc sư tử đang được xem là một “ứng cử viên” thay thế cho Thụy Sỹ một khi “pháo đài bí mật” trong các nhà băng Thụy Sỹ bị phá vỡ.

9. Bỉ


Nhiều người có thể ngạc nhiên khi thấy có tên Bỉ trong danh sách này. Trên thực tế, Bỉ đã nhiều năm âm thầm duy trì chế độ thuế suất thấp cho các doanh nghiệp và không trao đổi thông tin về các tài khoản nhà băng ở nước này. Tuy nhiên, gần đây, Bỉ đã dần điều chỉnh chính sách này.

10. Hồng Kông


Trước đây, vùng lãnh thổ này là một “thiên đường thuế” cho các công dân và doanh nghiệp Anh. Hồng Kông đem tới cho những ai có nhu cầu trốn thuế sự bảo mật thông tin và các doanh nghiệp mức thuế suất đáng mơ ước.

Những cách tham quan Trung Quốc thường sử dụng để chuyển tiền ra nước ngoài

Một vài người dùng cách đơn giản là tự mình hoặc cho người xách những vali lớn đựng đầy tiền qua biên giới.

Một số khác sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng hiệu với khối lượng lớn ở nước ngoài, sau đó dùng tiền biển thủ công quỹ hoặc tiền hối lộ để bù vào thẻ tín dụng.

Trong một số trường hợp, tham quan nhận tiền hối lộ ở nước ngoài và dùng tiền đó mua bất động sản cũng ở nước ngoài, hoặc chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản ở nước ngoài.

Nếu tinh vi hơn, tham quan sẽ thành lập nhiều công ty “kín như bưng” ở nơi xa xôi, thường được xem là thiên đường thuế như quần đảo British Virgin Islands hay Mauritus song song với một công ty trong nước. Kế đó, họ cho công ty trong nước mua nguyên vật liệu từ công ty ở nước ngoài với mức giá “trên trời” rồi để công ty trong nước bán hàng cho công ty nước ngoài với giá dưới mức giá thị trường. Công ty ở trong nước sau đó sẽ phá sản theo một kịch bản có sẵn, rồi công ty ở nước ngoài sẽ thâu tóm công ty phá sản này.

Một kênh rửa tiền phổ biến khác là các sòng bạc ở “thiên đường casino” Macao. Do quy định kiểm soát chuyển tiền ra nước ngoài, các sòng bạc Macau cho phép khách hàng từ đại lục để Nhân dân tệ trong nhà băng ở đại lục rồi chuyển bằng thẻ tín dụng tới Macao, thường là với số lượng lớn hơn nhiều so với số lượng tiền gửi ban đầu tại ngân hàng.

Người thắng bạc có thể được trả bằng Đô la Hồng Kông và chuyển số tiền này đến một địa chỉ khác, nhưng cũng có lúc tham quan thắng bạc cầm thẳng số tiền này mang đi. Ông Mã Hướng Đông, nguyên Phó thị trưởng Thẩm Dương, bị cho là đã đánh bạc hết 4,8 triệu USD ở Macao trước khi bị mất chức. Hiện ông Mã đã lĩnh án tử hình vì tội dùng tiền Nhà nước đánh bạc.

Tuy nhiên, án tử hình vẫn không khiến giới tham quan Trung Quốc lo sợ. Ông He Jiahong, một chuyên gia về điều tra chống tham nhũng ở Đại học Nhân dân Trung Quốc cho rằng, nước này cần có những cách phòng chống tham nhũng hiệu quả hơn.

“Chính sách chống tham nhũng của Trung Quốc mới chỉ phụ thuộc vào hình phạt nghiêm khắc, cho rằng tử hình một kẻ sẽ răn đe được 100 người khác. Tuy nhiên, chính sách này chưa phát huy hiệu quả cao. Công tác điều tra hiệu quả sẽ tốt hơn là trừng phạt, và ngăn chặn tham nhũng còn tốt hơn việc điều tra”, ông He phát biểu.

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

Triết lý sống của Albert Einstein

Einstein tin tưởng rằng: "Dạy cho con người một chuyên ngành thì chưa đủ. Bởi bằng cách đó, anh ta tuy có thể trở thành một cái máy khả dụng, nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá. Điều quan trọng là anh ta phải được dạy để có một cảm thức sống động về cái gì là đáng để phấn đấu trong cuộc đời. Anh ta phải được dạy về cái gì là đẹp và cái gì là thiện. Nếu không, với kiến thức được chuyên môn hóa của mình, anh ta chỉ giống như một con chó được huấn luyện tốt, hơn là một con người được phát triển hài hòa. Anh ta cần phải học để hiểu những động cơ của con người, hiểu những ảo tưởng và nhưng nỗi thống khổ của họ để tìm được một thái độ ứng xử đúng đắn với từng con người đồng loại của mình, cũng như với cộng đồng".

Thế giới tinh thần của Einstein không phải là một điều bí ẩn như Thuyết tương đối của ông. Là người đơn giản và chân thành hiếm có, Einstein thực sự không quan tâm tới tiền bạc, danh tiếng. Ông cũng không phải là một người xa lánh xã hội, quay lưng lại với những đau khổ hay biến động của thế giới. Trái lại, ông dấn thân tích cực vào các vấn đề của xã hội, khi ông hiểu tiếng nói hay ảnh hưởng của mình có thể khắc phục một sai lầm nào đó. Einstein không đòi hỏi gì từ cuộc đời ngoài tự do để theo đuổi việc nghiên cứu về cơ cấu của vũ trụ. Ông tin tưởng vào nhân tính, vào một thế giới hòa bình nơi những con người biết tương trợ nhau, và ông tin tưởng vào nhiệm vụ cao cả của khoa học.
Tình cảnh của những đứa con trái đất chúng ta mới kỳ lạ làm sao! Mỗi chúng ta đến đây như một chuyến viếng thăm ngắn ngủi. Ta không biết để làm gì, nhưng đôi khi ta tin rằng ta cảm nhận được điều đó. Song, nhìn từ cuộc sống thường nhật mà không đi sâu hơn, ta biết rằng: ta đến đây vì người khác - trước hết vì những người mà hạnh phúc của riêng ta phụ thuộc hoàn toàn vào nụ cười và sự yên ấm của họ, kế đến là vì bao người không quen mà số phận của họ nối với ta bằng sợi dây của lòng cảm thông.

Mỗi ngày tôi nghĩ không biết bao nhiêu lần, rằng cuộc sống bên ngoài và cuộc sống nội tâm của tôi là dựa trên lao động của những người hiện tại và cả những người đã chết, rằng tôi phải nỗ lực để trao lại tương xứng với những gì tôi đã nhận được và còn nhận được. Tôi có nhu cầu sống giản tiện và thường cảm thấy dằn vặt, rằng mình đòi hỏi nhiều hơn mức cần thiết từ lao động của đồng loại. Tôi thấy sự khác biệt về giai cấp xã hội là không thể biện minh được và rốt cuộc là do dựa trên bạo lực. Tôi cũng tin rằng, một đời sống bên ngoài giản dị và không cầu kỳ là tốt cho mọi người, tốt cho cả thể xác lẫn tâm hồn.

Tôi tuyệt không tin vào tự do của con người theo nghĩa triết học. Mỗi người không chỉ hành động vì sự thúc ép ngoại cảnh mà còn theo đòi hỏi nội tâm. Câu nói của Schopenhauer: "Con người tuy có thể làm những gì mình muốn nhưng không thể chạy theo những gì mình muốn." đã hằng sống theo tôi từ thời trẻ và luôn là nguồn an ủi với tôi trong những lúc đối mặt và chịu đựng sự khắc nghiệt của cuộc đời và là nguồn suối vô tận của lòng khoan dung. Cảm nhận đó đã làm vơi đi biết bao gánh nặng trách nhiệm vốn dễ khiến ta suy sụp; nó giúp ta không quá khắt khe với chính mình và người khác; nó dẫn đến một cách nhìn cuộc sống mà ở đó, nhất là sự hài hước cũng có chỗ đứng của nó.

Từ góc nhìn khách quan, câu hỏi về ý nghĩa hoặc mục đích tồn tại của mình cũng như của các sinh thể nói chung luôn có vẻ vô nghĩa đối với tôi. Nhưng mặt khác, mỗi người đều có những lý tưởng nhất định làm kim chỉ nam cho nỗ lực và sự phán xét của mình. Theo nghĩa này, sự thỏa mãn và yên ấm chưa bao giờ là mục đích tự thân của tôi (tôi gọi nền tảng luân lý này là lý tưởng của bầy lợn). Lý tưởng của tôi, lý tưởng soi đường và luôn làm dâng đầy trong tôi niềm cảm khái yêu đời, là Thiện, Mỹ và Chân. Không có cảm nhận về sự đồng điệu với những người cùng chí hướng, không có sự đau đáu với cái khách quan, với cái mãi mãi không vươn tới được trong lĩnh vực nghệ thuật và nghiên cứu khoa học, thì cuộc sống với tôi thật trống rỗng. Những mục đích tầm thường mà người đời theo đuổi như của cải, thành đạt bề ngoài, sự xa xỉ, với tôi từ thời trẻ đã luôn đáng khinh.

Ý thức nhiệt thành của tôi về công bằng xã hội và trách nhiệm xã hội luôn đối nghịch một cách cố hữu với việc tôi không có nhu cầu trực tiếp gắn kết với những cá nhân và tập thể. Tôi đích thực là một kẻ "thu mình", kẻ chưa bao giờ hoàn toàn thuộc về nhà nước, quê hương, bạn bè, vâng, ngay cả gia đình thân thiết của mình cũng vậy; đối với tất cả những mối quan hệ ấy, tôi luôn có cảm giác xa lạ khôn dứt và nhu cầu được cô đơn; cảm giác đó càng tăng theo tuổi tác. Người ta cảm nhận được, một cách rõ nét nhưng không ân hận, về ranh giới của sự đồng cảm và hòa hợp với người khác. Có thể một người như thế sẽ đánh mất phần nào sự hồn nhiên và vô tư, nhưng bù vào đó, anh ta lại luôn độc lập trước những quan điểm, thói quen và sự phán xét của người khác, và không để mình dễ bị chao đảo trên cái nền tảng không lấy gì làm vững chắc đó.

Lý tưởng chính trị của tôi là lý tưởng dân chủ. Mỗi người cần được tôn trọng như một nhân cách và không ai được thần thánh hóa. Thật trớ trêu cho số phận, chính tôi lại nhận được quá nhiều sự ngưỡng mộ và trọng thị từ người khác - mà tôi chẳng làm gì xứng đáng hay làm gì nên tội. Điều này có lẽ có nguyên cớ từ mong muốn không được thỏa mãn của nhiều người trong việc muốn hiểu vài ba ý tưởng của tôi, những ý tưởng mà tôi đã tìm được bằng chút sức lực yếu ớt trong cuộc vật lộn không ngừng nghỉ. - Albert Einstein.

Một số hình ảnh về Albert Eistein




Einstein chơi violin và chuẩn bị cho buổi diễn tại trường Princeton, NJ.






           

Albert Einstein với cây guitar điện
Vân Sam
(Nguồn Vietnamnet)

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Câu chuyện vàng ở Việt Nam

Một nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đặt chân tới Việt Nam đã bất ngờ khi phát hiện ra rằng, các ngân hàng ở đây vẫn đang huy động vàng. Trong khi đó, trên thế giới, dịch vụ gửi vàng tại các nhà băng đã là chuyện của quá khứ từ rất lâu.


Sự ngỡ ngàng trên được ông Tim Staermose, chiến lược gia trưởng thuộc bộ phận đầu tư của quỹ đầu tư Sovereign Man, chia sẻ với độc giả của trang Business Insider. Trong bài viết có tựa đề “There's still a place where they will pay you to store gold” (tạm dịch: “Vẫn có một nơi mà người ta sẽ trả tiền cho bạn để giữ vàng hộ bạn”), đăng trên blog kinh tế này hôm nay (14/4), ông Staermose cho biết, hiện nay, không có nơi nào trên thế giới lại có dịch vụ gửi vàng trong ngân hàng như ở Việt Nam.

“Đây là chuyện hiếm gặp. Các ngân hàng ở Việt Nam sẽ thực sự trả tiền cho BẠN để được giữ hộ vàng của bạn trong những két sắt an toàn của họ. Tôi khá là ngạc nhiên khi tự mình phát hiện ra sự thật này. Cả tôi và sếp tôi chưa từng thấy điều này ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, ngoại trừ ở Việt Nam”.

Nhìn lại lịch sử của ngành tài chính thế giới, nhà đầu tư đã từng đi khắp thế giới này cho biết, thực ra, dịch vụ gửi vàng trong các ngân hàng đã “xưa như trái đất”. “Đây là việc mà các ngân hàng trước đây thường làm. Ban đầu, các ông chủ nhà băng cũng chỉ là các thợ kim hoàn giàu có, ngày nào cũng làm việc với vàng. Họ có một hệ thống an ninh kiên cố, và nếu bạn trả phí, thì họ sẵn sàng giữ hộ vàng cho bạn trong két của họ”, bài báo viết.

Về sau, các thợ kim hoàn này nhảy sang lĩnh vực cho vay tiền. Bởi thế, thay vì bắt người gửi vàng phải trả phí, họ sẽ trả người gửi vàng một mức lãi suất nhất định và cho vay số vàng đó, thu về mức lãi cao hơn và đương nhiên hưởng phần chênh lệch.

Theo ông Staermose, danh tiếng của người thợ kim hoàn ở vào thời kỳ sơ khai của ngành tài chính đó sống chết cùng chất lượng danh mục cho vay, cũng như khả năng thanh toán đúng hạn lãi và gốc đối với khoản tiền, vàng mà khách hàng gửi vào chỗ họ.

“Ngày nay, tất cả những việc đó đã trở thành lịch sử, ngoại trừ ở Việt Nam”, ông Staermose hài hước.

Theo đánh giá của ông Staermose, chính mức lạm phát cao đã đẩy nhu cầu giữ vàng để bảo toàn giá trị tài sản của người Việt Nam gia tăng, và các ngân hàng không bỏ lỡ cơ hội để phổ biến rộng rãi dịch vụ tưởng chừng như đã cổ xưa là huy động vàng.

Nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng bùng nổ vào giữa những năm 2000 nhờ quá trình tự do hóa kinh tế và các dòng vốn ngoại đổ vào. Trong vòng vài năm, nền kinh tế rơi vào trạng thái phát triển nóng và lạm phát ồ ạt leo thang. Rồi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ập đến.

Cũng giống như nhiều chính phủ khác trên thế giới, Chính phủ Việt Nam đã phản ứng với khủng hoảng bằng cách in tiền để cứu tăng trưởng. Chính cách làm này đã làm vấn đề lạm phát trở nên trầm trọng hơn và xói mòn niềm tin của người dân vào tiền giấy.

Trong ba năm qua, đồng VND của Việt Nam đã mất giá khoảng 30% so với USD. Nếu so với những đồng tiền mạnh lên so với USD như Đô la Australia và Đôla Canada, thì đồng VND còn mất giá mạnh hơn. Ông Staermose cho rằng, trên đồng tiền của Việt Nam đang có quá nhiều con số 0.

 “Bởi vậy, không có gì là ngạc nhiên khi người Việt Nam suy giảm lòng tin vào đồng nội tệ. Họ thích giữ USD và vàng hơn. Các ngân hàng vào cuộc, khuyến khích người dân gửi vàng bằng cách đưa ra mức lãi suất hấp dẫn”, ông Staermose viết.

Nhà đầu tư này còn bất ngờ trước việc giá nhà đất ở Việt Nam thường được quy đổi ra “lượng, chỉ” và việc hầu hết người dân ở đây đều để ý đến vàng và biết giá vàng.

Theo nhận định của ông Staermose, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để chống tình trạng “vàng hóa” và “đô la hóa” nền kinh tế, trong đó có các biện pháp chống đầu cơ vàng. “Về mặt kỹ thuật, các ngân hàng Việt Nam hiện không được phép trả lãi suất cho các khoản gửi vàng, nhưng trên thực tế, điều đó vẫn đang diễn ra”, ông Staermose viết.

Theo lập luận của bài viết, với những gì đang xảy ra ở Việt Nam, thì lời khẳng định của nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett - rằng vàng chỉ là một khối kim loại ngớ ngẩn không có khả năng sinh lời - bỗng trở nên vô nghĩa.

“Thật phi lý khi mà người phương Tây vẫn xem Việt Nam là nghèo, lạc hậu và chậm phát triển… Ở nơi này người dân vẫn đủ thông minh để ‘xa lánh’ tiền giấy và tìm đến với một loại tài sản khan hiếm về mặt tự nhiên và có mức độ rủi ro thấp hơn”, bài viết của ông Staermose kết luận.    

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Hết thời cửa hàng lớn

Khi tuyên bố đóng cửa 50 cửa hàng lớn và mở 100 cửa hàng có quy mô nhỏ hơn vào hôm 29/3 vừa qua, hãng bán lẻ Best Buy dường như đã chấp nhận thực tế rằng kỷ nguyên thống trị của mô hình “đại cửa hiệu” mà họ áp dụng bấy lâu đã tới hồi kết thúc.
Và giờ là thời của mô hình bán lẻ dựa trên các cửa hiệu có quy mô nhỏ, hãng tin tài chính Bloomberg bình luận.
Mặc dù các “đại gia” bán lẻ khác của Mỹ như Wal-Mart và Target vẫn đang tiếp tục mở những cửa hiệu lớn, tất cả đều đang chú trọng nhiều hơn tới những cửa hiệu nhỏ. Theo kế hoạch, Best Buy sẽ tăng gấp đôi số lượng cửa hiệu nhỏ mang tên Best Buy Mobile trong thời gian từ nay tới năm 2016. Hãng Wal-Mart sẽ mở khoảng 100 cửa hiệu nhỏ trong năm nay, còn Target thì sẽ mở 5 điểm bán lẻ quy mô nhỏ mang tên CitiTarget.
Sau 50 năm đẩy mô hình bán lẻ quy mô nhỏ ra rìa, các “đại cửa hiệu” đang lâm vào khủng hoảng ở Mỹ và nhiều nơi trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế chậm chạp khiến tốc độ tăng trưởng doanh thu của các cửa hiệu này suy giảm, kéo tỷ suất lợi nhuận thu hẹp. Trong khi đó, người tiêu dùng ngày càng trở nên thông thái hơn trong việc so sánh giá cả. Họ tìm đến với nhiều cửa hàng hơn để tìm hàng giá rẻ hoặc “hàng độc” thay vì chỉ chăm chăm mua hàng một chỗ.
Chúng ta đang đối mặt với những thay đổi chóng mặt. Người tiêu dùng đang cắt giảm chi tiêu, mua nhiều hàng hóa trên mạng hơn. Bởi vậy, các hãng bán lẻ thực sự cần phải thu hẹp quy mô cửa hàng”, nhà phân tích Natalie Berg thuộc hãng phân tích Planet Retail tại London phát biểu.
Về cơ bản, các hãng bán lẻ theo mô hình “đại cửa hiệu” có hai dạng, một là các hãng tập trung vào một loại hàng hóa như Best Buy và một là các hãng bán hàng giá rẻ như Wal-Mart và Target với số lượng mặt hàng đa dạng hơn.
Kể từ khi suy thoái kinh tế Mỹ nổ ra đến nay, các “đại cửa hiệu” ở nước này lâm cảnh khó khăn. Cho tới quý tài khóa thứ ba của năm ngoái, Wal-Mart đã chứng kiến 8 quý liền liên tiếp doanh thu suy giảm tại các cửa hiệu có độ tuổi từ 12 tháng trở lên. Best Buy thì có 5 quý liền suy giảm lợi nhuận trước khi báo lỗ 2,6 tỷ USD hôm 29/3 vừa rồi.
Kể từ tháng 6/2009, thời điểm suy thoái kinh tế Mỹ chính thức kết thúc, giá cổ phiếu của Wal-Mart tăng 26%, trong khi giá cổ phiếu của Best Buy giảm 28%. Dù tăng hay giảm thì diễn biến giá của hai cổ phiếu này đều thua mức tăng 39% của chỉ số Standard&Poor’s 500 Retailing Index dành cho cổ phiếu của các nhà bán lẻ niêm yết tại thị trường chứng khoán Mỹ. Trong cùng khoảng thời gian, giá cổ phiếu của Target tăng 48%.
Mô hình “đại cửa hiệu” (big-box retail) ra đời tại Mỹ vào năm 1962. Đó là năm mà Wal-Mart, K-Mart và Targett đồng loạt mở những cửa hiệu lớn bán hàng giá chiết khấu đầu tiên. Dần phát triển lên, các “đại cửa hiệu” mới cung cấp thêm nhiều mặt hàng với mức giá thấp để đáp ứng nhu cầu của tầng lớp dân cư di chuyển từ thành phố tới các khu vực ngoại ô.
Mô hình này phát triển bùng nổ vào thập niên 1990. Được tiếp lửa bởi sự lên điểm chóng mặt của thị trường chứng khoán và hoạt động tín dụng dễ dãi, người dân Mỹ đổ tới sống ở các vùng ngoại ô nhiều hơn và ồ ạt mua sắm thiết bị cũng như hàng tiêu dùng cho ngôi nhà mới của mình. Sự phát triển mạnh của thị trường địa ốc đã đưa các “đại cửa hiệu” vào một kỷ nguyên mới. Rồi sau đó, thị trường bắt đầu xuống dốc và người tiêu dùng thắt chặt hầu bao.
Những yếu tố khác cũng gây trở ngại lớn cho mô hình “đại cửa hiệu”. Con cái của thế hệ những người sinh ra trong khoảng thời gian 1946 - 1964 sau Chiến tranh Thế giới thứ II (baby boomer) giờ đều đã trưởng thành, và cha mẹ của họ không còn cần phải tích trữ thức ăn hay hàng hóa trong nhà như trước. Họ kết hôn muộn hơn và thậm chí trì hoãn việc có con, đồng nghĩa với việc ít người phải mua nhà hơn, nên nhu cầu trang hoàng và mua sắm đồ đạc mới cho nhà cửa cũng suy giảm.
“Bây giờ, nhu cầu đối với mô hình bán lẻ cửa hiệu lớn đang ở mức đáy”, ông Bryan Gildenberg, nhà phân tích thuộc hãng nghiên cứu Kantar Retail ở Massachusetts, nhận định.
Bởi vậy, cuộc đua chuyển sang mở những cửa hiệu quy mô nhỏ không có gì là khó hiểu. Best Buy dự kiến sẽ có khoảng 800 cửa hiệu nhỏ Mobile Stores vào năm 2016, từ mức 305 cửa hiệu hiện nay. Đây là một phần trong chiến lược của CEO Brian Dunn nhằm gia tăng doanh thu từ hoạt động bảo hành, phụ kiện và kết nối giữa các sản phẩm điện thoại, máy tính bảng và các mặt hàng điện tử khác.
Tuy nhiên, CEO Dunn cũng khẳng định, chiến lược chú trọng hơn tới mô hình bán lẻ quy mô nhỏ của Best Buy vẫn dành chỗ cho “đại cửa hiệu”.
“Chúng tôi coi các cửa hiệu lớn là một phần quan trọng trong mạng lưới, bên cạnh các cửa hiệu nhỏ. Các dịch vụ bán hàng trực tuyến và qua điện thoại của chúng tôi cho phép khách hàng yêu cầu bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu, với bất cứ nhu cầu nào. Tôi không cho rằng đây là sự đi xuống của mô hình cửa hiệu lớn, mà chỉ là một lối đi đa dạng hơn trong đó diện tích bán lẻ mà chúng tôi cần cho mỗi cửa hiệu sẽ ít đi”, ông Dunn nói.
Tương tự, Wal-Mart cũng tỏ ra trung thành với các “đại cửa hiệu”. Năm nay, công ty dự kiến mở thêm nhiều gấp ba số cửa hiệu nhỏ Neighborhood Markets so với năm 2011,  nhưng vẫn mở thêm 150 cửa hiệu lớn, so với mức 122 “đại cửa hiệu” mới được mở trong năm ngoái.
“Cửa hiệu lớn vẫn là mảng kinh doanh tốt nhất của chúng tôi. Chúng tôi sẽ tiếp tục gia tăng sự hiện diện ở mảng này”, phát ngôn viên Deisha Galberth Barnett của Wal-Mart cho biết.
Theo Bloomberg, hoạt động mua sắm trên mạng ngày càng phổ biến cũng là một nhân tố bất lợi đối với các “đại cửa hiệu”. Hưởng lợi nhiều nhất từ xu hướng mua sắm trên mạng tại Mỹ chính là Amazon.com - nhà bán lẻ đang “gặm” bớt thị phần của Wal-Mart, Best Buy và Target.
Theo ông Matt Arnold, nhà phân tích thuộc công ty Edward Jones, thách thức lớn nhất đối với các “đại cửa hiệu” hiện nay chính là việc người tiêu dùng ngày càng tin tưởng hơn vào mua sắm trực tuyến. Để chống chọi với thực tế này, ông Arnold khuyến nghị các nhà bán lẻ nên kết hợp chặt chẽ giữa bán lẻ tại cửa hiệu và bán trực tuyến.
“Mặc dù đang gặp khó, mô hình bán lẻ cửa hiệu lớn sẽ không “chết”. Họ sẽ chuyển sang quy mô nhỏ hơn và đầu tư nhiều hơn vào bán hàng trên mạng”, ông Arnold nhận xét.   

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Warren Buffett: quyết định trị giá 50 tỷ USD

Trong một bài viết đăng tải trên mục “When I was 25” (tạm dịch: “Khi tôi 25 tuổi”) của tạp chí Forbes Life, nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett đã tiết lộ với độc giả những quyết định đầu tiên của ông đặt nền móng cho đế chế Berkshire Hathaway - tập đoàn đa lĩnh vực khổng lồ do ông sáng lập và đến nay vẫn giữ vai trò lãnh đạo.

Forbes Life gọi quyết định mà Buffett đưa ra khi ông 25 tuổi là “quyết định trị giá 50 tỷ USD”, cho dù Buffett cho rằng, những quyết định mà ông đưa ra khi đó chỉ là ngẫu nhiên và chẳng dựa trên ý tưởng nào.
“Benjamin Graham vốn là thần tượng của tôi kể từ khi tôi đọc cuốn “The Intelligent Investor” (tạm dịch: “Nhà đầu tư thông minh” - PV) của ông. Tôi muốn học ở trường kinh doanh của Đại học Columbia vì Graham là một vị giáo sư giảng dạy tại đó. Sau khi tốt nghiệp trường này, tôi trở về quê nhà Omaha, và bắt đầu công việc bán chứng khoán, nhưng Graham vẫn luôn trong tâm trí tôi. Trong khoảng thời gian từ năm 1951-1954, tôi tự biến mình thành một “kẻ quấy rầy” Graham, liên tục gửi cho ông những bức thư trong đó nêu các ý tưởng của bản thân về chứng khoán.
Sau đó, tôi nhận được thư hồi âm từ thần tượng: “Lần tới khi đến New York, anh hãy đến gặp tôi”.
Tôi tới New York, và Graham cho tôi một công việc ở Graham-Newman Corp., công ty mà ông đứng ra điều hành cùng Jerry Newman. Ai cũng cho rằng, A.W. Jones là người đã sáng lập nên ngành công nghiệp quỹ đầu cơ, nhưng tôi biết rằng, Newman and Graham, một quỹ “chị em” của Graham-Newman Corp. mới là quỹ đầu cơ được thành lập sớm hơn. Với công việc ở Graham-Newman Corp., tôi chuyển tới khu White Plains ở New York, mang theo vợ tôi - Susie - khi đó đang mang bầu 4 tháng và con gái lớn. Mỗi sáng, tôi đi tàu tới khu Grand Central và tới chỗ làm.
Nhưng công việc này không kéo dài lâu. Năm sau, khi tôi 25 tuổi, Graham khiến tôi sững sờ khi ông tuyên bố chuẩn bị nghỉ hưu. Thực ra, ông ấy làm nhiều điều hơn thế. Ông cho tôi một cơ hội để thay thế ông. Theo kế hoạch mà họ vạch ra, con trai của Jerry Newman là Mickey sẽ trở thành sếp lớn mới, còn tôi là sếp phó mới của Graham-Newman Corp. Đó là một quỹ rất nhỏ, chỉ quản lý chừng 6-7 triệu USD, nhưng là một quỹ nổi tiếng.
Việc ra quyết định thật khó khăn. Đây là cơ hội cho tôi được xỏ chân vào đôi giày của thần tượng - tôi thậm chí đặt tên đứa con trai đầu của tôi là Howard Graham Buffett (Howard là tên cha thân sinh tôi). Nhưng tôi cũng lại muốn trở về Omaha. Chừng một tháng sau đó, tôi vẫn đi làm bình thường và sáng nào cũng thầm nghĩ rằng, mình sẽ nói với ông Graham là mình sẽ nghỉ. Nhưng làm việc đó thật khó.
Vấn đề nằm ở chỗ, khi học xong đại học, tôi có 9.800 USD, nhưng đến cuối năm 1955, số tiền mà tôi nắm trong tay đã là 127.000 USD. Tôi nghĩ, mình sẽ trở về Omaha, nhận dạy vài lớp đại học, đọc thật nhiều sách - đúng là tôi sắp sửa về hưu! Tôi nhẩm tính, chúng tôi có thể sống với 12.000 USD mỗi năm, và với tài sản 127.000 USD, tôi sẽ sống thoải mái.
“Kiểu tính lãi mẹ đẻ lãi con đảm bảo là anh sẽ giàu”, tôi nói với vợ.
Vợ và các con tôi trở về Omaha trước. Tôi nhảy lên ôtô và đi về phía Tây để tìm hiểu về những công ty mà tôi muốn đầu tư. Đó là một chuyến đi mang tính thẩm định với trách nhiệm cao. Tôi dừng chân ở Hazleton, Pennsylvania để thăm công ty than Jeddo-Highland Coal Company. Tôi tới thăm công ty Kalamazoo Stove & Furnace Company ở Michigan khi đó đang được thanh lý. Tôi đến xem tòa nhà của công ty này trông ra sao, họ đang có gì để bán. Rồi tôi tới Delaware, Ohio để tìm hiểu công ty đóng thùng Greif Bros Cooperage (giờ thì còn ai biết nghề đóng thùng là gì nữa?). Chủ tịch công ty này tiếp tôi. Tôi không hề hẹn gặp họ trước mà chỉ ghé vào. Tôi nhận thấy là tất cả mọi người đều trò chuyện với tôi. Và họ đã giúp đỡ tôi.
Ở Omaha, tôi thuê một ngôi nhà ở số 5202 Underwood với giá 175 USD/tháng. Tôi nói với vợ: “Anh cũng muốn mua nhà. Nhưng như thế chẳng khác gì thợ mộc bán đồ nghề”. Tôi không muốn tiêu hết tiền vốn của mình.
Tôi không có kế hoạch mở công ty hay tìm kiếm một công việc. Tôi không thấy có gì đáng lo chừng nào còn tự thân vận động được. Chắc chắn là tôi không muốn lại đi bán chứng khoán lần nữa.
Nhưng vô tình, một nhóm 7 người, gồm một số người bà con của tôi, nói với tôi: “Anh đã từng bán chứng khoán. Chúng tôi muốn anh tư vấn xem chúng tôi nên làm gì với tiền của mình”. Tôi trả lời: “Tôi sẽ không làm việc đó nữa, nhưng tôi sẽ thành lập một công ty như của Benjamin Graham và Jerrry Newman, và nếu mọi người muốn thì hãy tham gia cùng tôi”. Cha vợ tôi, bạn cùng phòng ký túc xá đại học với tôi, mẹ anh ấy, dì Alice của tôi, em gái tôi, anh vợ tôi, và luật sư của tôi cùng tham gia dự án này. Tôi cũng góp vốn vào.
Đó là sự khởi đầu, hoàn toàn là tình cờ.
Khi quyết định công tác, 8 người chúng tôi đang ăn tối ở Omaha Club. Tôi mua một cuốn sổ cái với giá 49 xu, và những người kia rút séc của họ ra. Trước khi tôi nhận tiền, tôi đưa cho họ một nửa trang giấy viết về những nguyên tắc căn bản của liên minh mà tôi in ra bằng giấy than.
Tôi nói với họ: “Sẽ có 2-4 trang tài liệu pháp lý của công ty. Mọi người đừng lo. Tôi sẽ nói về những gì có trong đó và sẽ không ai ngạc nhiên đâu”.
Nhưng những nguyên tắc nền tảng này là triết lý của liên minh. Nếu các bạn đồng điệu với tôi, thì chúng tay hãy cùng khởi hành. Còn nếu không thì tôi cũng hiểu. Tôi sẽ không nói với các bạn về những gì chúng ta đang nắm thứ gì hay bất kỳ điều gì tương tự. Tôi muốn được chúc mừng khi tôi xứng đáng được chúc mừng, và tôi muốn bị ném trứng thối vào người nếu tôi xứng đáng với điều đó. Nhưng tôi không muốn bị ném trứng nếu tôi để mất 5% khoản đầu tư mà thị trường xuống 15%.
Tôi nghĩ khi đó, tôi xứng đáng được chúc mừng. Chúng tôi làm rõ mọi quy tắc, và mọi người đưa séc của họ cho tôi.
Tôi chẳng mồi chài gì cả, nhưng sau đó những tờ séc tiếp tục tìm đến tôi từ những người không quen biết. Trong khi đó, ở New York, công ty Graham-Newman đang được thanh lý. Homer Dodge, một nhà đầu tư từng góp vốn với Graham hỏi ông ấy: “Ben, anh bảo tôi nên làm gì với tiền của mình bây giờ?”. Graham nói: “Ồ, anh có thể tham gia với một cậu trước đây từng làm cho tôi…”. Và ông này tìm đến Omaha, đến ngôi nhà nơi tôi đang thuê để ở. Khi đó, tôi 25 tuổi, trông như một gã 17, và hành động như một đứa trẻ 12 tuổi. “Cậu đang làm gì?”, Dodge hỏi tôi. “Đây là những gì mà tôi đang làm cùng gia đình mình và tôi sẽ làm việc đó cùng ông”, tôi trả lời.
Mặc dù tôi chẳng có một ý tưởng rõ ràng nào, nhưng tuổi 25 đúng là một bước ngoặt trong đời tôi. Tôi sẽ khiến cuộc đời mình thay đổi từ đó, xây dựng nên những gì về sau sẽ trở thành một công ty kha khá có tên là Berkshire Hathaway. Tôi chẳng sợ hãi gì cả. Tôi chỉ làm những gì mình thích và tôi sẽ còn tiếp tục làm như thế”.

Kinh nghệm của tỷ phú tự thân - Sara Blakely

Với 5.000 USD khởi nghiệp, Sara Blakely- chủ hãng đồ lót Spanx đã có số tài sản lên tới 1 tỷ USD và trở thành nữ tỷ phú tự thân trẻ nhất trong danh sách của Forbes.

Blakely năm nay mới 41 tuổi và là giám đốc của Spanx – công ty chuyên sản xuất đồ lót nổi tiếng thế giới với những khách hàng tên tuổi như Oprah Winfrey. Bắt đầu chỉ với số vốn ít ỏi 5.000 USD và không có một nhân viên nào, đến nay, công ty của cô đã có 125 người, trong đó có 16 nam.

Gần đây, tài sản của Blakely được các ngân hàng đầu tư tại Wall Street ước tính vào khoảng 1 tỷ USD. Spanx hiện có 200 mẫu quần áo gồm cả đồ lót, đồ tắm và thời trang cho người năng động. Số sản phẩm này được bày bán tại 11.500 trung tâm thương mại, showroom và cửa hàng online tại 40 quốc gia trên toàn thế giới.

Tỷ phú
Tỷ phú hàng đồ lót Spanx - Sara Blakely bên gia tài của mình.

Sau khi tốt nghiệp đại học, Blakely làm nhân viên hướng dẫn cho Disney World trong 3 tháng. Sau đó, cô chuyển sang làm nhân viên kinh doanh cho Danka - công ty chuyên cung cấp thiết bị văn phòng của “đại gia” ngành in ấn Ricoh. Thời gian làm việc ở đây đã giúp ích rất nhiều cho việc rèn luyện kỹ năng bán hàng của Blakely. Cô nhớ lại: “Họ cho tôi một góc làm việc, một cuốn danh bạ điện thoại, bốn mã vùng ở Cleanwater và nói: ‘Nhiệm vụ của cô là bán máy fax giao tận nhà với doanh thu tối thiểu 20.000 USD một tháng’”.

Cô kể lại rằng rất nhiều lần mình bị khách hàng đẩy ra khỏi nhà, thậm chí còn “xé danh thiếp ngay trước mặt” vì cô “quá dai dẳng”. Nhưng với vẻ duyên dáng, khéo léo cùng kỹ năng thương thuyết sắc sảo, chỉ vài năm sau, cô đã trở thành huấn luyện viên bán hàng cho Danka ở tuổi 25.

Sau đó, cũng giống như nhiều doanh nhân khác, ý tưởng kinh doanh đến với Blakely rất tình cờ. Việc phái mặc quần bó trong suốt quãng thời gian làm việc cho Disney World và Danka làm cô cảm thấy hết sức khó chịu, nhất là trong thời tiết nóng nực ở Florida. Một buổi tối, cô nghĩ ra cách cắt bỏ phần chân chiếc quần tất của mình, và thế là ý tưởng về Spanx ra đời.

Cô đặt tên công ty mình là Spanx (nghĩa là phát vào mông) vì “Từ Spanx nghe rất vui nhộn và nó làm mọi người khó có thể quên được”. Blakely đã phác thảo ra mẫu thiết kế những chiếc Spanx đầu tiên và đến năn nỉ các chủ xưởng may làm cho mình. Hầu hết mọi người đều nói rằng cô sẽ chẳng bán được chiếc nào cả, nhưng rồi cũng có một người đồng ý giúp cô hiện thực hóa ý tưởng “điên rồ” này.

Cô tâm sự trên Forbes rằng: “Tôi chưa bao giờ thử sức trong lĩnh vực thời trang hoặc bán lẻ. Tôi chỉ tạo ra loại đồ lót chưa từng có trên thế giới”. Khi ấy, Blakely mới 27 tuổi và quyết định chuyển đến Atlanta lập nghiệp với toàn bộ 5.000 USD tiền tích cóp. Thay vì thuê chuyên gia, Blakely tự làm tất cả mọi việc. Thậm chí, để tiết kiệm 3.000 USD phí tư vấn đăng ký bản quyền, cô cũng tự tay viết bản đăng ký nhãn hiệu dựa trên sách của Barnes & Noble và dành 150 USD để mở công ty.

Sau khi ký hợp đồng với trung tâm thương mại cao cấp Neiman Marcus, Blakely bắt đầu tự mình giao hàng trong các phong bì trắng cho khách. Cô cũng kiêm luôn tất cả mọi việc từ marketing, PR đến hướng dẫn các nhân viên của trung tâm cách sử dụng đúng đồ lót Spanx. Blakely thường xuyên giới thiệu sản phẩm của mình bằng cách đứng ở quầy nghỉ chân của Neiman Marcus với hai bức poster to bên cạnh. Một tấm là ảnh vòng 3 của cô trước và sau khi mặc quần lót Spanx, và một cái là hình ảnh mẫu quần Spanx Power có giá 30 USD.

Cuối cùng thì vận may cũng đến với Blakely khi cô chuyển được hàng mẫu cho Andre Walker - stylist của Oprah Winfrey. Tháng 10/2000, Oprah đã tuyên bố rằng Spanx là hãng quần áo ưa thích nhất của bà. Spanx lúc đó thậm chí còn chưa có website.

Năm đầu tiên, công ty đạt lợi nhuận 4 triệu USD và năm sau đã tăng lên gấp 2,5 lần với 10 triệu USD. Sau đó, năm 2002, Blakely đã thuê Laurie Ann Goldman làm tư vấn viên để chuyên nghiệp hóa cách làm việc của công ty. Chính nhờ sự tỉ mỉ và chi tiết, năm vừa qua, bất chấp kinh tế ảm đạm, doanh số của Spanx vẫn tăng trưởng khoảng 20%. Blakely sở hữu 100% công ty này, điều thú vị nhất là công ty hoàn toàn không phải vay nợ, không cần đầu tư từ bên ngoài, và cũng chưa hề mất 1 xu nào để quảng cáo.

Năm 2004, Blakely đã giành giải nhì trong show truyền hình Rebel Billionaire của Richard Branson. Toàn bộ giải thưởng 750.000 USD đã được cô đã dùng để lập một quỹ từ thiện. Đến nay, quỹ này đã chi tổng cộng 17,5 triệu USD cho các hoạt động hỗ trợ trẻ em gái và phụ nữ ở Nam Phi.

Cô tâm sự: “Tiền sẽ tô đậm bản thân bạn. Nếu bạn không phải là người tốt, tiền sẽ biến bạn trở nên xấu xa hơn. Còn nếu bạn là người tử tế, thì nó sẽ giúp bạn sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Với tôi, làm ra tiền, tiêu tiền và cho đi đều là những việc vô cùng hạnh phúc”.

Hà Thu
(Nguồn Vnexpress)

Áp dụng dân chủ trong doanh nghiệp


picture Sự đam mê, sáng tạo, năng động, thông minh nhanh nhẹn của nhân viên phải được khơi dậy, nuôi dưỡng, phát huy nhằm tạo nên giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.


André Malraux, một trong những văn hào thấm nhuần tư tưởng phương Đông, từng nói: “Văn hóa là những gì còn lại, khi tất cả đã mất đi”. Xin được dùng câu nói bất hủ đó làm lời dẫn đầu cho bài viết này.

Văn hóa là giá trị tinh thần cốt lõi của một dân tộc, một đất nước nói riêng và cả nhân loại nói chung, được hun đúc từ ngàn xưa cho đến ngày nay. Giá trị tinh thần đó, khi được đưa ra làm kim chỉ nam, không có tính bảo thủ, hoài cổ, thủ cựu.

Lòng nhân ái, yêu nước, yêu thương đồng loại là những giá trị tinh thần “hội tụ” khi con người biết sử dụng khối óc, trái tim để khẳng định thân phận con người. Thông qua những phương sách, công cụ, nghi thức, các giá trị tinh thần cốt lõi đó được đưa vào cuộc sống, phục vụ con người, xã hội. Sự tiến hóa này là điều có thật khi con người được xem là chủ thể trung tâm.

Nói như thế để dẫn đến một kết luận cơ bản mà gần một năm qua, các học giả về quản trị doanh nghiệp đã đúc kết về những giá trị cốt lõi của học thuyết mới về quản trị doanh nghiệp: trách nhiệm, tôn trọng, đạo đức.

Học thuyết quản trị mà Henri Fayol, Lyndall Urwick, Luther Gullick, Max Weber... xây dựng từ đầu thế kỷ 20, vẫn sẽ tồn tại để giải quyết các vấn đề hiệu quả và độ tin cậy về hoạt động của các tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp lớn. Học thuyết và mô hình quản trị này đã thật sự đem lại một sự phồn vinh kinh tế trong thế kỷ 20 và cực thịnh trong hai thập niên cuối cùng (1980 - 1990).

Tuy nhiên, lúc cực thịnh nhất cũng là lúc học thuyết, mô hình này đạt đến đỉnh cao nhất, có nghĩa là điểm tới hạn. Và câu hỏi: “Quản trị như thế nào để có tính thích ứng cao với thay đổi môi trường xã hội, kinh tế, tài chính, văn hóa... và sự thích ứng là vì con người chức không phải chế ngự con người?” đang là thao thức chung của các học giả đi tìm một học thuyết mới.

Gary Hamel, tác giả ấn phẩm “The Future of Management” năm 2007, là một trong số học giả tiên phong, châm ngòi cho các diễn đàn quản trị đang diễn ra hiện nay. Sự đồng thuận lớn về học thuyết và mô hình quản trị “đổi mới” xoay quanh một số điểm chính. Đó là phải đặt con người, giá trị con người, là điểm trung tâm của hoạt động, đời sống doanh nghiệp. Doanh nghiệp không thể trở thành một bộ máy không “hồn” như một rô bốt thuần kinh tế/tài chính. Sự đam mê, sáng tạo, năng động, thông minh nhanh nhẹn của nhân viên phải được khơi dậy, nuôi dưỡng, phát huy nhằm tạo nên giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.

Nhà triết học Blaise Pascal đã nói: “Không có gì lớn lao trở thành hiện thực trong thế giới này mà không xuất phát từ đam mê, hoài vọng lớn!”. Sự thành công của nhân viên chính là thành công của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi nói đến việc khuyến khích tính sáng tạo, năng động… không có nghĩa là không cần đến kỷ luật trong nền quản trị mới. Kỷ luật, nhưng là kỷ luật thông minh!

Tựu trung, học thuyết quản trị mới là tổng hợp nối kết hai trường phái quản trị chính trên thế giới hiện nay. Đó là trường phái Mỹ lấy hiệu quả là cứu cánh và trường phái Nhật lấy giá trị tinh thần về con người làm cứu cánh. Phải chăng đó là kinh tế thị trường định hướng xã hội!

Đặt hiệu quả kinh tế là cứu cánh mặc dù đã đem đến một sự phồn thịnh trong một khoảng thời gian nào đó, nhưng tác động tiêu cực về vấn đề con người lãnh đạo, điều hành nói chung đã bộc lộ một cách trầm trọng tạo nên khủng hoảng. Đặt con người làm cứu cánh, nhưng nếu đưa tính tự tôn dân tộc lên quá cao cũng làm cản trở tính nối kết quyền biến, linh hoạt, hài hòa với các nền kinh tế khác.

Đơn giản mà nói, sự tổng hợp có thể tóm tắt như sau: quản trị đặt con người vào vị trí trung tâm, dựa vào những giá trị cốt lõi, đúng cho tất cả mọi nơi, nhưng biết chọn một lộ trình thích ứng để hiệu quả kinh tế từng giai đoạn đều có! Có hiệu quả kinh tế thì sử dụng một phần thích ứng để củng cố, phục vụ giá trị con người. Vòng tròn “con người - hiệu quả kinh tế - con người - hiệu quả kinh tế...” sẽ tránh được sự điều tiết cực độ về kinh tế như cơn khủng hoảng hiện nay.

Để làm được điều trên, các doanh nghiệp và đặc biệt các tập đoàn đa quốc gia không thể không xem lại thể chế quyền lực cực đoan như hiện nay. Tính “không dân chủ” phải chăng là một yếu tố cấu thành sự sụp đổ giá trị cốt lõi để dẫn đến sự sụp đổ của các tổ chức đó. Nếu thay từ “khoa học” trong câu nói của triết gia Esnest Renan bằng từ “kinh tế” thì hiểu được hệ lụy của sự “không dân chủ”: “Kinh tế mà không lương tâm chỉ là một sự sụp đổ của tâm hồn”. Lương tâm là nền tảng của đạo đức để biết đâu là trách nhiệm, tôn trọng là tôn trọng gì. Tính dân chủ vừa là công cụ vừa là hệ quả của lương tâm.

Douglas Mc Gregor, trong tác phẩm lừng danh “The Human Side of Enterprise” xuất bản năm 1960 đã phân tích và tranh luận chống lại ý tưởng quá khích xem con người chỉ là một công cụ phục vụ cho hiệu quả kinh tế.

Công ty W.L Gore & Associates thành lập năm 1960 đã dám thực hiện ý tưởng “dân chủ doanh nghiệp” của Douglas Mc Gregor. Từ tay không, nay tập đoàn Gore đã có 8.000 nhân viên, 45 nhà máy ở Mỹ, Anh, Đức, Nhật, Trung Quốc... với doanh số hàng năm hơn 2 tỉ USD. Từ lúc thành lập cho đến bây giờ, tập đoàn này chưa bao giờ thua lỗ dù trải qua nhiều cuộc khủng hoảng. Tạp chí Fortune từ lâu đã đưa tập đoàn Gore vào “top” của của các tập đoàn được nhân viên “yêu mến/gắn bó” nhất!

Và khi nói đến cụm từ “dân chủ”, đừng tưởng nhầm là nhân viên sẽ “lè phè”, “loạn”. Không, tính kỷ luật, tính vì cộng đồng, tính vì công việc hoàn mỹ, tính “đổi mới” là những điểm cốt lõi tại tập đoàn Gore! Hay như những công ty thành lập sau này như tập đoàn Whole Foods của Mỹ với doanh số 8 tỉ USD/năm và tập đoàn Google với hơn 10.000 kỹ sư, hơn 10 tỉ USD/năm hoạt động không khác gì tập đoàn Gore!

Vậy, tính dân chủ được đưa vào đời sống doanh nghiệp như thế nào?

Thứ nhất, hội đồng quản trị thật sự đóng vai trò chỉ đạo và giám sát ban lãnh đạo điều hành. Các thành viên hội đồng quản trị phải có kinh nghiệm nghề nghiệp, thật sự độc lập, tránh tình trạng có những “lợi ích” mật thiết với chủ tịch điều hành. Thứ hai, chủ tịch và ban lãnh đạo công bố đều đặn, minh bạch đường lối hoạt động ngắn hạn, trung hạn, dài hạn cho toàn thể nhân viên và báo chí, tạo cơ chế “đối thoại” trực tiếp với cộng đồng nhân viên và lắng nghe, quan tâm đến “góp ý” của nhân viên. Thứ ba, cộng đồng nhân viên sẽ được tham gia với những cơ chế được ấn định trước để “tham mưu” cho ban lãnh đạo. Một cơ chế thông thoáng, sáng tạo, minh bạch cho toàn thể lãnh đạo, cán bộ, công nhân viên, nhằm đãi ngộ xứng đáng, đúng lúc những tài năng cá nhân hay nhóm đem đến hiệu quả ngắn hạn, trung hạn, dài hạn cho doanh nghiệp!

Với cách lãnh đạo, điều hành vừa nêu trên, một cách ngắn gọn cũng cho thấy ba cốt lõi của doanh nghiệp là trách nhiệm, tôn trọng, đạo đức đã được thực hiện một cách thực chất.

Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu hiện nay đã làm thức tỉnh giới lãnh đạo từ doanh nghiệp đến các nguyên thủ quốc gia. Các học giả đều nhận thức là cách quản trị mới sẽ được tác động sâu sắc bởi những chính sách chính trị, kinh tế, tài chính vĩ mô mà các cường quốc như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, cộng đồng châu Âu, Ấn Độ, khối kinh tế Nam Mỹ... thỏa hiệp để có một sự điều tiết chấp nhận được! Và đây là một cơ hội, vì Mỹ không còn là siêu cường quốc độc nhất.

Theo báo cáo của Boston Consulting Group (2008), trong mười tập đoàn quốc tế có giá trị chứng khoán trên 50 tỉ USD trở lên và có lãi nhất thì chỉ có hai tập đoàn của Mỹ, còn Nhật Bản, Anh, Hà Lan, Thụy Sỹ chỉ có một tập đoàn. Bốn tập đoàn còn lại là của các quốc gia mới phát triển Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Mexico!

Nói chung, một sự lạc quan hợp lý đã được ghi nhận là một trật tự mới đang được tư duy, thiết chế nhằm xóa đi những thái quá của những mô hình cực đoan cũ. Sự tư duy, thiết chế này trong chừng mực nào đó là một cuộc cách mạng về tinh thần quản trị. Hãy ngẫm nghĩ về một tuyên bố của Taylor, một trong những học giả chủ xướng của cuộc cách mạng quản trị khoa học năm 1912 trước Quốc hội Mỹ như sau: để có một nền quản trị dựa trên nền tảng khoa học, thì cần một cuộc cách mạng về tư duy từ nhân viên cấp thấp cho đến những lãnh đạo của họ. Sự cách mạng tư duy này phải được thực hiện trong cuộc sống của doanh nghiệp, nghĩa vụ phải được thực hiện hai chiều... Không có cuộc cách mạng tư duy này thì nền quản trị khoa học không thể thực hiện được!

Cách đây 100 năm, đã có một cuộc cách mạng về tư duy quản trị. Bây giờ cũng thế, nếu chúng ta thay thế từ “khoa học” trong ý tưởng tóm tắt phát biểu của Taylor bằng cụm từ “con người - hiệu quả kinh tế” cho học thuyết quản trị đổi mới dựa trên nền tảng trách nhiệm, tôn trọng, đạo đức.

TS. Nguyễn Công Phú sinh ngày 22/1/1951. Ông lấy bằng Kỹ sư Thủy lực học tại Đại học Bách khoa Grenoble (Pháp) và sau đó là bằng Tiến sĩ Cơ học đất tại Đại học Khoa học Paris và Trường Cầu đường Paris (Pháp). Ông từng làm việc cho Bộ Giao thông và thiết bị Pháp và cho các tập đoàn Alstom và Bureau Veritas. Từ năm 1995 đến nay, ông làm việc cho tập đoàn Apave với chức danh Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Apave Sudeurope và là Tổng giám đốc Apave Việt Nam và Đông Nam Á.