Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

Làm giàu từ 2 triệu đồng vốn

Khoản tiền vay được từ một chương trình tài chính vi mô năm 2006 đã giúp anh Hoàng Trọng Hậu (Hưng Yên) phát triển trang trại gà, mang lại thu nhập lên tới hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Trước năm 2006, kinh tế gia đình anh Hoàng Trọng Hậu (sinh năm 76) tại thôn Tam Đa, xã Tam Đa, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên gặp nhiều khó khăn và thuộc diện nghèo ở địa phương. Là người khuyết tật, lưng gù từ nhỏ nên bản thân anh cũng thường xuyên phải chi phí tốn kém cho việc khám chữa bệnh. Công việc chạy chợ của gia đình không đủ để trang trải nên anh quyết định tìm một hướng đi mới.

Nhận thấy việc nuôi gà Đông Tảo có tiềm năng, anh Hậu mày mò chọn giống rồi nuôi thí điểm 50 con loại để thịt. Tuy rất thành công nhưng anh quyết định trước mắt sẽ bán giá rẻ để tiếp thị sản phẩm. Anh chở gà đến bán tại cho các mối ở khu vực Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nội. Từ đó thì có nhiều khách hàng có nhu cầu mua gà của anh. 

Để có tiền mở rộng mô hình, sau đó anh Hậu đã huy động anh em họ hàng cho vay thêm nhưng không được. Bản thân không có tài sản thế chấp, anh cũng rất khó vay vốn ngân hàng. Lúc đó, anh được một người bà con mách nước đến vay từ Chương trình tài chính vi mô của tổ chức Tầm nhìn Thế giới. 2 triệu đồng là khoản tiền anh vay được lúc đó dưới hình thức tín chấp để mua 100 con gà mẹ và thức ăn chăn nuôi.

Anh Hậu hiện mở rộng mô hình nuôi ngan, gà, lợn, rắn... Ảnh: NVCC

Chỉ 6 tháng sau, đàn gà bắt đầu đẻ trứng với số lượng trung bình 50 quả mỗi ngày và cho ra thành phẩm 30 con gà giống sau khi ấp. Từ đó, gia đình anh Hậu có thu nhập ổn định và tăng dần lên cùng với việc người đến đặt mua con giống cũng tăng lên.

Thỉnh thoảng gà con chết, trứng hỏng… anh lại tận dụng để nuôi thêm con rắn. Những người dân quanh vùng thấy việc nuôi gà Đông Tảo của anh Hậu làm ăn tốt nên cũng nuôi theo. Thấy nhu cầu lớn, anh lại quay ra nuôi gà đẻ để sản xuất gà giống, bán cho dân trong vùng.

Năm 2012, nhận thấy thị trường gà Đông Tảo bão hòa do số người nuôi đông, anh Hậu chuyển sang nuôi ngan. Anh cũng áp dụng kỹ thuật nuôi mới để chăm ngan nhằm hạn chế dịch bệnh. Tuy nhiên, anh cũng tính toán, chọn thời điểm nuôi hiệu quả nhất.

Mỗi năm anh nuôi chỉ nuôi 2 lứa vào tầm cuối năm và tháng 2 âm lịch để tránh những mùa không được giá. Với số lượng mỗi đàn khoảng 1.500-2.000 con nuôi trong vòng 2,5 tháng là anh có thể xuất chuồng, bán buôn cho các thương lái ở khu vực Hải Phòng, Hà Nội. Anh nhẩm tính, sau khi trừ các chi phí, mỗi con ngan thịt anh được lãi khoảng 60.000 đồng.

Vào những tháng giữa năm, giá ngan thường không cao do phải cạnh tranh với vịt thả đồng. Anh Hậu chuyển sang nuôi gà và ngan giống để bán cho mối hàng tại Quảng Ninh, Khoái Châu (Hưng Yên). Mỗi tháng, cho xuất chuồng khoảng 1.000 con cả ngan và gà, lãi từ 5.000 đến 7000 đồng một con.

Nhiều dân trong huyện thấy mô hình chăn nuôi của anh Hậu khoa học, hiệu quả nên cũng làm theo. Đến nay, đã có hơn 20 người dân thực hiện mô hình gà Đông Tảo và đang có người đến học mô hình nuôi ngan thả sàn lưới nhựa của gia đình anh Hậu.

Để tính toán được hiệu quả, đến cuối năm thường anh Hậu cũng tổng kết công việc làm ăn của gia đình. Con số này tăng dần qua các năm .Năm 2010, doanh thu của nhà anh khoảng 451 triệu đồng, 2011 khoảng 500 triệu và đến 2012 là 550 triệu. Trong đó, sau khi trừ các chi phí, anh được lãi khoảng 25-30% doanh thu.

Hiện tài sản của gia đình anh đã được nhân lên gấp nhiều lần. Ảnh: NVCC

Anh Hậu cho biết, bên cạnh việc học hỏi về các kinh nghiệm chăn nuôi, để đạt được hiệu quả cần biết cách lập ngân sách chi tiêu một cách phù hợp. Gia đình anh cân đối lợi nhuận hàng năm để chi phí sinh hoạt và học hành của 2 con, khám chữa bệnh, mua bảo hiểm cho các thành viên trong gia đình. Còn lại để sửa sang chuồng trại, đầu tư con giống.

Chủ trang trại cũng chia sẻ, thường tính toán những cách làm tiết kiệm chi phí một cách tối đa. Ví dụ, trang trại của anh chủ yếu được lợp bằng dạ, trong khi những gia đình khác thường lợp ngói xi măng. Anh lý giải, nêu lợp ngói xi măng tuy nhanh nhưng đến mùa hè lại phải mua thêm giàn phun mưa để giảm nóng cho vật nuôi. Lợp bằng dạ thì chuồng trại sẽ thoáng mát hơn, ngan, gà, lợn cũng bớt bệnh dịch.

"Nhưng lợp dạ lại phải chú ý việc phun diệt khuẩn, giữ vệ sinh chuồng trại", anh cho hay.

Hoặc để tiết kiệm thức ăn tiền mua cám công nghiệp, anh Hậu "tự chế" thức ăn cho lợn. Anh mua loại cá, tép nhỏ chỉ khoảng 4.000 đồng kg, sau đó xay gạo trộn lẫn rồi ủ men, dấm cho lợn ăn dần. Chủ trang trại cũng làm hầm biogas tận dụng chất thải chăn nuôi để làm nguyên liệu đun, nấu, thậm chí cho hàng xóm dùng chung.

Tuy nhiên, anh cũng cho biết, không phải lúc nào công việc cũng xuôi chèo mát mái, nhất là những giai đoạn đầu tiên anh mới triển khai mô hình. Có những lần ngan, gà đổ bệnh, anh phải liên tục ngồi cả ngày từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối để đổ thuốc cho từng con. Đến những giai đoạn cần tẩy giun cho vật nuôi, anh cũng phải làm tương tự. Tuy nhiên, anh quan niệm, không việc gì là không làm được và nếu quyết tâm, chịu khó thì thực sự là "làm giàu không khó".
 
Ngọc Tuyên
vnexpress

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Dân đầu tư Trung Quốc khoái Bitcoin


Nhu cầu của thị trường Trung Quốc đã góp phần dẫn tới sự tăng giá bùng nổ của đồng tiền ảo Bitcoin. Cho dù giá Bitcoin gần đây đã thiết lập những kỷ lục mới, nhiều nhà đầu tư Trung Quốc như anh Li Xiaolai cho biết sẽ không vội bán ra.




Theo tờ Wall Street Journal, anh Li, năm nay 44 tuổi, là một trong những nhà đầu tư Bitcoin “bự” nhất ở Trung Quốc. Cựu giáo viên tiếng Anh này không đưa ra con số cụ thể, chỉ nói rằng, số Bitcoin mà anh đang nắm giữ “ở mức 6 con số, và con số đầu tiên là số 1”. Như vậy là đủ để biết, khi giá Bitcoin tăng lên mức 1.000 USD/1 Bitcoin, giá trị số tiền ảo mà anh Li Xiaolai nắm giữ đã vượt mức 100 triệu USD.

“Đây là lần đầu tiên Trung Quốc có thể dẫn đầu thế giới”, Li nói. Anh muốn nhắc đến những sáng tạo của Trung Quốc trong sản xuất con chip cho máy “đào” Bitcoin, các ứng dụng web cho loại tiền ảo này, và các bộ phận khác của “hệ sinh thái” Bitcoin.

Wall Street Journal cho hay, Trung Quốc đang ngày càng trở nên quan trọng đối với số phận của đồng tiền ảo 4 năm tuổi này. Bitcoin không được bảo lãnh bảo bất kỳ một ngân hàng trung ương nào và được tạo ra thông qua một quá trình điện toán phức tạo gọi là “khai mỏ” hoặc “đào” (mining) trên máy tính.

BTC China, sàn giao dịch Bitcoin lớn nhất của Trung Quốc, trong 30 ngày qua có mức giao dịch bình quân 64.000 Bitcoin mỗi ngày - theo số liệu mà CEO của sàn này là ông Bobby Lee đưa ra.

Trong cùng khoảng thời gian đó, BTC China chiếm hơn 1/3 khối lượng giao dịch Bitcoin trên toàn cầu, từ mức chỉ 20% trong 6 tháng trước đó. Hiện đã có hẳn một công ty là Bitcoinity được lập ra để theo dõi thị lĩnh vực Bitcoin. Trong tháng 11, giá Bitcoin trên BTC China tăng gấp 4 lần, đạt mức kỷ lục 7.395 Nhân dân tệ, tương đương 1.214 USD/1 Bitcoin vào ngày 1/12.

Nhưng, việc truyền thông Trung Quốc để ý tới Bitcoin cũng đã giúp thu hút một số lượng không nhỏ các nhà đầu tư không chuyên nhảy vào đồng tiền ảo này.

“Thế hệ chúng tôi không có đủ tiền để đầu tư vào bất động sản và tôi không đủ hiểu về kinh tế để đầu tư trên thị trường chứng khoán”, anh Xiong Bin, 33 tuổi, làm quản lý trong một mỹ viện ở Quảng Tây nói. Anh Xiong cho biết, anh bắt đầu mua Bitcoin vào giữa tháng 11 và hiện đã có khoảng 40.000 Nhân dân tệ, tương đương khoảng 6.600 USD, trên thị trường này. “Tôi rất cảm ơn các thông tin từ báo chí”, Xiong nói, và cho biết, chính nhờ báo chí mà anh biết đến Bitcoin.

Được giới thiệu từ năm 2009 bởi một nhân vật bí ẩn mang tên Satoshi Nakamoto, Bitcoin được tạo ra bằng các thuật toán. Các máy tính kết nối với hệ thống sẽ triển khai nhiều bước xử lý số liệu phức tạp. Quá trình này được gọi là “mining” (có lẽ thuật ngữ này được chọn cũng bởi quá trình tạo ra Bitcoin có nhiều điểm tương đồng so với quá trình khai thác mỏ).

Các thuật toán trong hệ thống tạo ra Bitcoin được thiết lập sao cho ngày càng khó để có thể “đào” được Bitcoin. Đồng thời, tổng số Bitcoin được tạo ra không bao giờ được phép vượt quá con số 21 triệu. Qui tắc này được đưa ra để không ai có thể phát hành Bitcoin ồ ạt và giảm giá trị của những đồng tiền đang lưu thông.

Mối quan tâm tới Bitcoin ngày càng lớn ở Trung Quốc được xem là một nguyên nhân dẫn tới giá Bitcoin tăng vọt. Tuy nhiên, ảnh hưởng thực tế của nhu cầu từ thị trường Trung Quốc tới Bitcoin là rất khó để cân đong đo đếm. Ông Kacper Ciesla, nhà sáng lập Bitcoinity, nói rằng, khối lượng giao dịch trên sàn BTC Trung Quốc đã tăng mạnh sau khi sàn này bỏ phí giao dịch.

“Ngay sau đó, chúng ta đã chứng kiến giá Bitcoin tăng mạnh” trên toàn cầu, ông Ciesla nói.

Câu hỏi đặt ra với nhiều người lúc này là vai trò của Trung Quốc trên thị trường Bitcoin sẽ phát triển ra sao?

Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ đồng Nhân dân tệ, cũng như các dòng vốn ra, vào nước này. Thực tế này nhiều người băn khoăn không biết liệu nhà chức trách Trung Quốc có chấp nhận một đồng tiền ảo được dễ dàng giao dịch trên Internet và chuyển đổi. Trước đây, Trung Quốc đã mạnh tay với các loại tiền ảo. Hồi năm 2009, nước này đã có một tuyên bố cấm sử dụng tiền ảo để mua hàng hóa và dịch vụ thực. Tuyên bố này đặt dấu chấm hết cho loại tiền ảo QQ của tập đoàn công nghệ hàng đầu Trung Quốc Tencent.

Tháng trước, Phó thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc Nghị Cương nói, nước này trước mắt không công nhận Bitcoin, nhưng phát tín hiệu rằng, nhà chức trách có thể sẽ “nương tay” với đồng tiền này. “Nếu muốn, mọi người có thể chấp nhận rủi ro, và nhớ rằng giá cả tăng rồi lại giảm. Đó là vấn đề của mọi người”, ông Nghị Cương nói trong một buổi hội thảo tài  chính.

Theo ông David Kiang, cựu Giám đốc điều hành của ngân hàng Trung Quốc First Sino Bank, một người hiện đang không sở hữu Bitcoin nào, thị trường Bitcoin đang còn đang rời rạc và Trung Quốc chưa biết thị trường tiền ảo này sẽ phát triển tới đâu. Bởi thế, ông Kiang cho rằng, các nhà chức trách Trung Quốc đang chọn cách chờ xem “nước Mỹ sẽ làm gì”. Theo ông Kiang, nếu thị trường Bitcoin phát triển tới một khối lượng lớn, “sẽ rất khó để được Trung Quốc chấp nhận”.

Sự biến động của thị trường là một vấn đề nữa cần lưu tâm. Trong những năm gần đây, những người mới giàu lên ở Trung Quốc đã chịu ảnh hưởng không nhỏ từ các biện pháp hạn chế đầu tư mà Bắc Kinh áp dụng dẫn tới sự lên xuống thất thường ở nhiều kênh đầu tư. Chỉ số chứng khoán chính của Trung Quốc hiện có mức điểm bằng chưa đầy một nửa so với đỉnh cao thiết lập năm 2007. Các kênh đầu tư khác trải qua sự tăng rồi giảm chóng mặt bao gồm tiền xu, trà, nhân sâm, đông trùng hạ thảo… Trong khi đó, bất động sản, kênh đầu tư tiết kiệm chính của người Trung Quốc, đã tăng giá mạnh và ra khỏi tầm với của nhiều người.

Tuần này, nhà chức trách Trung Quốc cho biết đã bắt giữ 3 người bị tình nghi vận hành một sàn giao dịch Bitcoin có tên là Global Bond Ltd nhưng đã đóng cửa, lừa dối các nhà đầu tư để lấy tiền. Theo nhà chức trách, sàn giao dịch này không được cấp phép hoạt động tại nơi đặt trụ sở là Hồng Kông.

Một nhà đầu tư là Xu Yuanda, 19 tuổi, đến từ tỉnh Giang Tô, cho biết đã đổ số tiền 12.000 Nhân dân tệ vào sàn giao dịch nói trên, và chỉ “hồi vốn” được có 4.000 Nhân dân tệ vào tháng 9. Anh Xu cho biết, anh đã chuyển sang mua các loại tiền ảo khác, và mức nắm giữ của anh đã tăng gấp 3 lần trong thời gian gần đây. Hiện anh Xu chưa muốn bán ra, nhưng cũng chỉ tính sẽ đầu tư ngắn hạn.

Nhiều nhà đầu tư đặt cược vào tiền ảo Bitcoin ở Trung Quốc thừa nhận việc họ đang đầu cơ ngắn hạn, cho dù chính họ nhấn mạnh triển vọng dài hạn của loại tiền này. Ông Ron Cao, Giám đốc điều hành của quỹ đầu tư mạo hiểm Lightspeed China Partners, quỹ đã đầu tư 5 triệu USD vào BTC China, nói rằng, ông muốn chứng kiến giá Bitcoin tăng hợp lý hơn là tốc độ tăng giá chóng mặt của loại tiền ảo này trong thời gian gần đây.

Giới đầu tư Bitcoin ở Trung Quốc nói, họ nhận thức được rủi ro, bao gồm các quan chức cấp cao không đả động công khai gì tới đồng tiền này cũng như việc đồng Bitcoin sẽ được quản lý ra làm sao. “Ít nhất thì ở Mỹ, họ cũng thừa nhận Bitcoin”, anh Long Yujiang, 25 tuổi, đến từ Thành Đô, nói. Anh Long cho biết, số Bitcoin mà anh đang sở hữu có trị giá khoảng 200 triệu USD ở mức giá hiện tại.

Tháng trước, Thượng viện Mỹ đã tổ chức một phiên điều trần về các loại tiền ảo. Ra điều trần có các quan chức cấp cao về thực thi pháp luật. Anh Long nói, anh có dự định chỉ bán ra số Bitcoin mà anh có ở Mỹ, nơi anh cho là lĩnh vực tiền ảo "được bảo vệ tốt hơn".   

Thương trường quốc tế: các chiêu lừa cho vay vốn khổng lồ

Thường thiếu vốn, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh hoạt động giao thương quốc tế và đặc thù sử dụng tiền mặt khiến Việt Nam trở thành mục tiêu của tội phạm tài chính quốc tế. Vụ tỉnh Tiền Giang vừa từ chối gói viện trợ 10 tỉ USD của Tập đoàn Diamond Access do một Việt kiều được ủy quyền cho thấy những chiếc bẫy vay vốn nước ngoài lúc nào cũng giăng sẵn
Từ đầu quý II/2013 đến nay, nhiều địa phương đồng loạt đưa ra khuyến cáo về hiện tượng lừa đảo vay vốn ngoại thông qua cầu nối chủ yếu là các cá nhân có vỏ bọc Việt kiều, các tổ chức hoặc thương nhân nước ngoài.

Liên tục cảnh báo

Tháng 5-2013, UBND tỉnh Đắk Lắk có công văn gửi các sở, ban ngành, hiệp hội trong tỉnh về việc thông tin liên quan đến các khoản chào vay vốn nước ngoài. Công văn nêu rõ gần đây có một số người Việt Nam, Việt kiều, người nước ngoài tự nhận là đại diện một số tổ chức tài chính quốc tế hoặc được ủy quyền liên hệ với Bộ Tài chính, Ngân hàng (NH) Nhà nước, UBND tỉnh, doanh nghiệp (DN) nhà nước làm môi giới vay vốn nước ngoài để thực hiện các dự án. Các cá nhân, tổ chức này có tư cách pháp nhân không rõ ràng, không chứng minh được năng lực tài chính, nguồn gốc vốn cho vay, có dấu hiệu lừa đảo, rửa tiền.

Tháng 6-2013, UBND TP Hội An cũng có văn bản cảnh báo về lời chào vay vốn nước ngoài. Vì trước đó, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam xuất hiện một số đối tượng tự nhận là đại diện Tổ chức Môi trường xanh thế giới liên hệ muốn hỗ trợ không hoàn lại khoản tiền hơn 1.114 tỉ đồng cho dự án trồng rừng của Khu Dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm. Điều kiện để tiếp nhận khoản hỗ trợ này là lãnh đạo địa phương phải cung cấp hồ sơ dự án và ký hợp đồng cam kết trả hoa hồng môi giới hơn 48 tỉ đồng. Công an tỉnh Quảng Nam đã xác minh và khẳng định không có tổ chức nào mang tên Tổ chức Môi trường xanh thế giới; các cá nhân đứng ra chào mời vay vốn có nhân thân, lai lịch không rõ ràng...


 


Văn bản cảnh báo của một số địa phương về việc vay vốn nước ngoài



Trước đó, nhiều địa phương rộ lên thông tin có nguồn vốn khủng của các tổ chức phi chính phủ tài trợ cho các dự án phát quang, dự án trồng rừng để giảm nghèo cho các tỉnh miền núi khó khăn. Bộ Tài chính cũng nhận được một số hồ sơ đề nghị vay vốn cho “Dự án phát quang”, “Dự án trồng rừng” của các tổ chức, cá nhân gửi đến. Bộ Tài chính đã có văn bản trả lời chính thức cho các cá nhân, tổ chức với nội dung Chính phủ không có dự án nào và cũng không có nguồn vốn nào dành cho mục đích phát quang, trồng rừng. Đồng thời đề nghị các địa phương nâng cao cảnh giác...

Chiêu cũ, vẫn lừa được

Luật sư Trương Thanh Đức, Chủ tịch CLB Pháp chế NH -Hiệp hội NH, cho biết hiện tượng lừa đảo vay vốn ngoại đã xuất hiện từ nhiều năm nay với chiêu bài rất cũ là hứa hẹn cho vay vốn khổng lồ với lãi suất rẻ như biếu không. Điều kiện giải ngân chỉ cần có bảo lãnh của cơ quan Chính phủ hoặc của NH thương mại. Dễ dàng hơn, có tổ chức, cá nhân chỉ yêu cầu bên vay vốn ký cam kết “lại quả” tiền môi giới hoặc chi trước khoản tiền “chạy” dự án. Thế nhưng, ở bất cứ thời điểm nào cũng vẫn có những nạn nhân mới sập bẫy.

Tháng 11-2011, Cơ quan CSĐT (PC46) Công an Hà Nội đã bắt tạm giam “siêu lừa” vốn ngoại Nguyễn Thị Hiền, 56 tuổi. Thành lập Công ty CP Đầu tư phát triển Minh Nam (Hà Nội) để lấy mác doanh nhân, Nguyễn Thị Hiền tự bịa ra các mối quan hệ đặc biệt để cho thấy mình là cầu nối tiếp cận các nguồn vốn vay phi chính phủ “khủng” để tài trợ các dự án nhân đạo. Mỗi địa phương có thể được chấp nhận vài dự án với quy mô 30-50 tỉ đồng, ưu tiên cho các tỉnh miền Trung chịu thiệt hại nặng nề sau chiến tranh. Muốn nhận tài trợ, các tổ chức, cá nhân phải có dự án do Công ty Minh Nam viết, chi phí là 60 triệu đồng, tiền quà cáp thêm 20-30 triệu đồng và chi phí thẩm định là 5-10 triệu đồng/dự án... Thực chất, các bộ hồ sơ dự án đều giống nhau vì được photocopy từ một bản mẫu, chỉ khác ngày và tên dự án, DN vay vốn. Hàng chục DN đã sập bẫy “siêu lừa” Nguyễn Thị Hiền.

Năm 2010, Công an TP Hà Nội đã bắt khẩn cấp Hoàng Ánh về hành vi giả mạo giấy tờ cho vay vốn nước ngoài. Thủ đoạn của Hoàng Ánh rất tinh vi. Khi tiếp cận các DN khát vốn, Hoàng Ánh trưng ra giấy xác nhận Công ty Hợp Lực có 30 triệu USD gửi tại Deutsche Bank (Dubai). Hoàng Ánh còn cho đối tác xem khoản đặt cọc 3 triệu USD của một DN Trung Quốc chuyển vào tài khoản của Ánh tại NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo hợp đồng bán tàu trị giá hàng chục triệu USD. Do đó, có doanh nhân đã vội vàng đưa Ánh gần 3 tỉ đồng để “chạy” dự án tài trợ của một tổ chức Hồi giáo Malaysia cho mục đích xây nhà máy giấy ở Việt Nam với quy mô gói tài trợ 30 triệu USD...

Chỉ với các chứng từ bằng tiếng Anh với nội dung được một người Philippines là ông Francisco E. De Los Santos ủy quyền sử dụng tài khoản ở các NH Việt Nam có tổng giá trị gần 300 tỉ USD, một Việt kiều Mỹ đã mở công ty riêng và ký hợp đồng cho vay vốn đối với 165 DN có tổng giá trị cho vay lên đến 433.000 tỉ đồng. Để được vay vốn, các DN Việt Nam phải trả các loại phí chiếm khoảng 15% tổng số tiền được vay và cam kết thế chấp tài sản hình thành trong tương lai... Thế rồi, các khoản lộ phí đã chi mà chờ “dài cổ” không thấy giải ngân, các nạn nhân trình báo cơ quan công an và khi có kết quả điều tra mới vỡ lẽ chủ tài khoản cùng với số tiền gần 300 tỉ USD ở 5 NH đều là ảo.

Định lừa cả Ngân hàng Nhà nước!
Theo Hiệp hội NH, NH Nhà nước từng tiếp nhận không ít đề nghị cho vay vốn lãi suất rất thấp, có khoản chào vay với lãi suất chưa đến 1%/năm, thời gian ân hạn kéo dài có khi đến 40 năm. Giá trị các khoản chào vay đều có quy mô cả chục tỉ USD trở lên, thường vào khoảng 10-20 tỉ USD. Ngay cả khi “đối tác” bày binh bố trận, NH Nhà nước đều từ chối vì khi kiểm tra đã phát hiện có dấu hiệu lừa đảo hoặc không có khả năng thu xếp và cung cấp các khoản tài chính lớn như vậy.


Tô Hà

Lao Động

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

Tiền điện tử: vị Chúa mới của nền kinh tế

Một ý tưởng rất táo bạo của một trong những nhà kinh tế học hàng đầu thế giới, Larry Summers, đó là “hãy sử dụng tiền điện tử, hệ thống tiền tệ mới này cho phép ngân hàng trung ương thực thi chính sách lãi suất âm”. Theo đó, những người đi vay sẽ được trả phí giữ hộ tiền cho người đi gởi tiền.


Ông Larry Summers - một trong những nhà kinh tế học hàng đầu thế giới

Mỹ đang kẹt vào tình trạng tăng trưởng kinh tế thấp và phục hồi yếu trong năm nay. Tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao bất chấp những nỗ lực lớn của FED trong kích thích kinh tế. Giai đoạn kinh tế với lạm phát thấp và thất nghiệp cao làm ngày càng nhiều người nói đến sự “bình thường mới” của tăng trưởng kém.

Những nhà kinh tế học đã và đang tìm kiếm những cách thức để trao thêm quyền lực cho ngân hàng trung ương để chiến đấu với suy thoái và ngăn chặn quá trình trì trệ kéo dài, vẽ lại viễn cảnh phục hồi. Larry Summers đã đặt ra thách thức kinh tế lớn trong bài diễn văn gần đây tại IMF. Thông thường, khi một cuộc suy thoái diễn ra, ngân hàng trung ương sẽ cắt giảm lãi suất để khuyến khích những doanh nghiệp đầu tư và quay lại hỗ trợ kinh tế tăng trưởng. Nhưng khi lãi suất chạm mốc 0%, những ngân hàng mất một trong những công cụ quan trọng nhất để chiến đấu với suy thoái. Điều này được gọi là giới hạn thấp hơn 0 (zero lower bound).

Khi đã chạm giới hạn thấp hơn 0 nghĩa là lãi suất không thể đạt được trạng thái cân bằng tự nhiên nơi mà nhu cầu đầu tư bằng với nhu cầu tiết kiệm. Thay vào đó, thậm chí tại mốc 0, lãi suất vẫn là quá cao, dẫn đến quá nhiều tiết kiệm và thiếu nhu cầu. Kết quả chúng ta làm cho sự phục hồi trở nên chậm chạp.

Cho đến gần đây, chúng ta vẫn chưa chạm cái giới hạn đó. Nhưng kể từ cuộc đại khủng hoảng, chúng ta đã mắc kẹt với nó và FED đã bị áp lực sử dụng những công cụ chính sách độc đáo khác thay thế. Đó là những gì mà Summers cảnh báo đó có thể trở thành một chuyện bình thường mới (new normal). Khi cuộc suy thoái tiếp theo diễn ra, lãi suất dường như không cách xa mốc 0 bao nhiêu. FED sẽ cắt giảm lãi suất và chúng ta lại phải gặp giới hạn thấp hơn 0 và đối mặt với một sự phục hồi chậm chạp khác.

Vậy câu trả lời là gì?

Kinh tế gia Đại học Michigan, Miles Kimball đã phát triển một giải pháp lý thuyết để ứng phó với vấn đề này, đó là một loại tiền tệ điện tử, tiền tệ điện tự sẽ cho phép FED điều chỉnh lãi suất danh nghĩa xuống dưới mức 0 để chống lãi suy thoái. Ông ấy đã và đang thuyết trình kế hoạch của mình với nhiều nhà kinh tế và các ngân hàng trung ương khắp thế giới. Kimball cũng đã viết rất nhiều lần về nghiên cứu của mình vã đã được phỏng vấn bởi Wonkblog’s Dylan Matthews.

“Nếu bạn đối mặt với một cuộc suy thoái tồi tệ, hậu quả kéo theo sau đó là những doanh nghiệp sẽ ngại đầu tư,” ông ấy đã nói với Business Insider. “Bạn phải mang đến cho họ những giao dịch thật sự thú vị để đảm bảo rằng họ sẵn lòng đầu tư và những giao dịch tốt đó nghĩa là những người đi vay tiền thật sự phải được trả phí để giữ hộ (to tend the money for the savers) tiền cho những người gởi tiết kiệm”.

Nhưng tiền giấy không thể làm được điều này.

“Theo truyền thống, chính phủ đảm bảo cho tất cả những người gởi tiết kiệm là họ sẽ ít nhất được hưởng lãi suất bằng 0, điều này được ghi nhận trong luật theo nhiều cách khác nhau,” Kimball đã nói.

Nếu FED hạ lãi suất thấp hơn 0 trong hệ thống tài chính hiện hành, những người tiết kiệm đơn giản là sẽ rút tiền của họ khỏi ngân hàng và tự giữ tiền thay vì phải nhận một lợi suất âm. Chính tiền giấy còn mang tính vật lý để người dân có thể rút tiền ra khỏi hệ thống tài chính chống lãi lãi suất âm.

Và điều này đã dẫn đến ý tưởng tiền điện tử của Kimball. Tuy nhiên, không giống Bitcoin, Bitcoin không được quản lý và không chính danh, tiền điện tử của Kimball sẽ tập trung và được sử dụng rộng rãi. Sẽ hiệu quả khi thiết lập hai loại tiền tệ: Dollars và e-dollars. Ngay lúc này, tờ 100 USD của bạn sẽ tương đương với 100 USD trong ngân hàng. Nếu tài khoản ngân hàng của bạn có mức lãi suất 5%, bạn sẽ kiếm được 5 USD tiền lãi 1 năm và tờ 100 USD đó vẫn có giá là 100USD. Những chuyện gì xảy ra nếu lãi suất là âm 5%? Bạn sẽ mất 5 USD sau 1 năm. Biết được điều này, bạn sẽ rút 100 USD và giữ nó ngoài hệ thống ngân hàng. Đây chính là nơi mà 2 loại tiền tệ khác biệt gặp nhau.

“Bạn phải làm một số thứ để tạo ra một lãi suất âm trên đồng tiền giấy,” Kimball đã nói. “Bạn phải có tờ 100 USD có giá trị 95 USD một năm sau theo mức lãi suất âm 5%. Ý tưởng này sắp xếp lại một số vấn đề, hãy nói 100 USD trong ngân hàng bằng với tờ 100 USD giấy bây giờ, nhưng 1 năm sau, 95 USD trong ngân hàng lại bằng với tờ 100 USD tiền giấy. Bạn có một tỷ giá chuyển đổi giữa chúng”.

“Sau 1 năm, tôi có thể nhận 95 USD khỏi ngân hàng và nhận tờ 100USD tiền giấy hoặc nếu tôi muốn gởi 100USD tiền giấy vào ngân hàng, họ sẽ ghi nhận tài khoản tôi với 95 USD”.

Sau một năm với lãi suất âm 5%, $100 dollars bằng giá với $95 e-dollars. Điều này đảm bảo rằng tiền giấy cũng đối mặt với lãi suất âm để loại bỏ những ưu đãi cho người gởi tiền để họ tích trữ đồng tiền dollar giấy khi FED ban hành lãi suất âm. Rất nhanh! Vấn đề giới hạn thấp hơn 0 đã được giải quyết.

Những lợi ích của chính sách này thậm chí còn vượt xa hơn suy nghĩ: chúng ta có thể nói tạm biệt với lạm phát.

“Một khi bạn xóa bỏ những ràng buộc của giới hạn thấp hơn 0, không có một lý do mạnh thật sự để có lạm phát 2%,” Kimball đã nói. “Những ngân hàng trung ương chủ chốt trên thế giới có lạm phát 2% và Ben Bernanke đã giải thích rõ ràng tại sao lại thế. Tránh xa giới hạn thấp hơn 0.”

Nhưng nếu lãi suất danh nghĩa được cho phép thấp hơn 0, sau đó FED có một dư địa lớn để chống lại suy thoái thậm chí với lãi suất lúc bắt đầu là rất thấp. Đây là một lợi ích khác từ việc loại bỏ giới hạn thấp hơn 0.

“Nếu bạn quan tâm về tương lai của đất nước này, một trong những vấn đề bạn cần hiện thực hóa là chúng ta cần giải quyết vấn đề của bên cầu”. “Con đường để giải quyết vấn đề của phía cầu phù hợp nhất mà không làm đảo lộn phía cung là chính sách tiền tệ và để làm điều đó chúng ta có thể điều hành lãi suất âm.”

Tại lúc này đây, e-dollars vẫn là một khái niệm trên lý thuyết, nhưng Kimball hi vọng rằng chúng có thể được hiện thực hóa trong tương lai gần. Ông ấy tin rằng nếu một chính phủ muốn, tiền điện tử có thể được sử dụng trong 3 năm và sẽ thu hoạch những lợi ích sớm sau đó.

“Điều này sẽ xảy ra một ngày nào đó,” ông ấy kết luận. “Hãy để tôi cho bạn biết tại sao. Có nhiều quốc giá trên thế giới và một vài trong đó dự định sẽ làm điều này và sẽ dễ hơn cho những quốc gia khác làm theo một khi một số quốc gia đã hiện hiện thực hóa”.

Finandlife (Theo Business Insider)

Bài học về ứng dụng công nghệ cao ở TH true MILK

TH true MILK là mô hình sản xuất sữa tươi sạch thành công tại Việt Nam nhờ công thức ứng
dụng công nghệ cao.
 

Tại những quốc gia phát triển như Úc, Mỹ, Nhật Bản, Hà Lan, sữa tươi sạch là sản phẩm thiết yếu hàng ngày trên kệ hàng siêu thị. Xu hướng tiêu dùng sữa tươi sạch đã tạo nên ngành công nghiệp sữa tươi ứng dụng công nghệ cao trên thế giới. Một thời gian dài trước khi TH true MILK xuất hiện, nhiều bà mẹ Việt kỹ tính phải mua cho con cái họ những sản phẩm sữa đắt tiền được nhập khẩu từ Úc, New Zealand.

Đứng trước sự nhập nhèm trong việc công khai nguồn gốc xuất xứ nguyên liệu sản xuất sữa tươi trên nhãn mác sản phẩm, các phụ huynh rất lo ngại cho sức khỏe con mình. Trong bối cảnh thị trường sữa nước Việt Nam đã chứng kiến khá nhiều vụ việc tiêu cực, người tiêu dùng buộc phải trả tiền cho những hộp sữa “tươi” được pha chế từ sữa bột và sữa pha lại (sữa hoàn nguyên). Nguyên nhân nổi cộm là do thiếu nguồn nguyên liệu sữa tươi đạt tiêu chuẩn chất lượng và đủ số lượng.

Bài toán đàn bò

Tiến sĩ Alan Phan, doanh nhân có nhiều năm kinh nghiệm tại các thị trường nước ngoài như Mỹ và Trung Quốc và là người Việt đầu tiên đưa công ty tư nhân của mình lên niêm yết sàn chứng khoán Mỹ (1987), đã nhiều lần bày tỏ hy vọng các doanh nghiệp nội địa sớm quay về tập trung vào những lĩnh vực cốt lõi là thế mạnh riêng của Việt Nam, trong đó nổi trội là nông nghiệp công nghệ cao. Ông Alan không ít lần chứng kiến một số doanh nghiệp “một thời vang bóng”, nhưng chỉ vì không tập trung vào cốt lõi, ham hố đầu tư trái ngành mà lao dốc không phanh.

Theo đánh giá của vị chuyên gia này, nông nghiệp công nghệ cao chính là bí quyết để tạo nên nền sản xuất quy mô lớn, bền vững cho ngành nông nghiệp, đồng thời sinh ra những công ty lớn cho đất nước. Trong ngành sản xuất sữa, phát triển đàn bò ở một quy mô đủ lớn và có chất lượng cao luôn mang tính thách thức cho các doanh nghiệp tham gia sân chơi này.

Bản thân Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong chiến lược phát triển đàn bò sữa Việt Nam đến năm 2020 đã đặt mục tiêu cả nước sẽ có tổng số 500.000 con. Tính đến hết năm 2012, cả nước khoảng 167.000 con, trong đó có khoảng 90.000 con cho sữa.

Với tốc độ phát triển đàn bò như hiện nay, nhất là việc nhập sữa bột về pha lại để sản xuất sữa tươi của một vài công ty, mục tiêu tham vọng trên của Bộ khó có thể trở thành hiện thực. Mặc dù đã đưa ra những giải pháp để nâng số lượng tổng đàn bò như các chính sách thúc đẩy chăn nuôi bò sữa, định hướng quy hoạch tăng tốc độ phát triển, đa dạng hóa các mô hình nuôi bò tăng năng suất, quy chuẩn hóa việc chăn nuôi - quy chuẩn hóa chất lượng… song có thể nhận thấy hiệu quả trong thực tế chưa đáp ứng kỳ vọng của Bộ.

Trong bối cảnh khó khăn đó, sự ra đời của TH true MILK đã góp phần làm thay đổi diện mạo của cả ngành sữa nội địa. Chủ tịch Tập đoàn TH (chủ sở hữu thương hiệu sữa tươi sạch TH true MILK), bà Thái Hương là người đi đầu trong việc cách mạng hóa ngành sữa bằng công nghệ cao. Ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp nói chung, ngành sữa nói riêng chính là con đường hữu hiệu nhất nhằm xây dựng một nền kinh tế bền vững.

Chỉ sau 3 năm thành lập công ty, theo kế hoạch cả năm 2013 tổng số lượng bò của Tập đoàn TH sẽ đạt 45.000 con, dự kiến sẽ nâng lên 137.000 con vào năm 2017 và cung cấp khoảng 50% nguồn nguyên liệu sữa tươi của cả nước. Mục tiêu lớn TH theo đuổi là dự kiến đạt 203.000 con năm 2020, nghĩa là chiếm gần một nửa tổng đàn bò sữa cả nước theo chiến lược của Bộ NN&PTNT.

Số lượng đàn bò của Tập đoàn TH cho đến hết tháng 9/2013 đã đạt hơn 35.000 con. Đáng chú ý là đàn bò sữa của TH là giống bò HF cao sản và nhờ quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và chế độ dinh dưỡng tốt được áp dụng khép kín ngay tại trang trại của TH (Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An), sản lượng sữa mỗi con bò có thể đạt tới 30 - 40 lít một ngày. Sản lượng sữa trung bình hiện nay đạt xấp xỉ 400 tấn sữa tươi/ngày và sẽ được tăng lên nhanh chóng trong những năm tới.

Sữa tươi công nghệ cao kiểu TH

Dự án sản xuất sữa tươi sạch tinh túy từ thiên nhiên TH True Milk mới ra đời được 3 năm, song đã tạo ra những dấu ấn, bao gồm (1) Tạo ra một chuẩn mực (benchmark) mới về chất lượng sữa tươi tại Việt Nam, từ đó sinh ra mô hình mới sản xuất hiện đại hoàn toàn khép kín, an toàn, giúp công ty quản lý đồng bộ chất lượng đầu ra sản phẩm; (2) Tăng sản lượng với đà tăng trưởng  bền vững để có thể đạt mục tiêu về chất lượng và số lượng.

Nói cách khác, mô hình sản xuất sữa tươi công nghệ cao của TH giải quyết được bài toán phát triển ngành chăn nuôi bò sữa, nhờ kết hợp giữa các yếu tố: Công nghệ hiện đại của Israel + Nguồn nguyên liệu tinh túy từ thiên nhiên, điều kiện thời tiết phù hợp + Vai trò của người nông dân trong sản xuất sữa.

Ngày 21/5/2012, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành Quyết định số 1169/QĐ-BNN-TCCB về việc cho phép thành lập Ban vận động thành lập Hiệp hội các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp. Ngày 3/12/2012, Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 1287/QĐ-BNV về việc cho phép Hiệp hội các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp (ATE), mở đường cho sự ra đời của ATE như một dẫn chứng cho sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với nông nghiệp.

Đại hội thành lập ATE đã chính thức được tổ chức ngày 28/2/2013 với 33 doanh nghiệp thành viên và 187 cá nhân là hội viên tham gia hiệp hội. TH là một trong những thành viên đi đầu thành lập ATE. Dự án sữa của Tập đoàn TH với quy mô khép kín đồng bộ từ khâu đầu vào đến khâu phân phối đi vào hoạt động chuyên nghiệp gồm 3 công ty với các chức năng cụ thể, chuyên biệt. Tống vốn đầu tư dự án sữa này lên tới 1,2 tỉ USD, sẽ hoàn thành vào năm 2020 (giai đoạn 1 có vốn đầu tư 350 triệu USD đã chính thức hoàn thành tháng 7/2013, hoàn tất xây dựng nhà máy chế biến sữa tươi sạch TH tại Nghĩa Đàn).

Sau 2 năm đi vào hoạt động (giới thiệu sản phẩm đầu tiên vào tháng 12/2010), TH hiện nay đã đạt mốc doanh thu 3.000 tỷ đồng, dự kiến cả năm 2013 đạt gần 4.000 tỷ đồng.

Theo bà Thái Hương, Chủ tịch Tập đoàn TH, kế hoạch đến năm 2015 công ty sẽ đạt doanh thu 15.000 tỷ đồng và cán đích 23.000 tỷ năm 2017.

Tầm nhìn dựa vào công nghệ cao đã giúp TH xây dựng nên một hệ thống trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung, theo đúng mô hình công nghệ cao tiêu chuẩn quốc tế. Lấy ví dụ, chỉ riêng thức ăn cho bò đã được giao cho nhóm chuyên gia Israel, thông qua hệ thống TMR với phần mềm phối trộn chuyên dụng Rationall và One1.

Hệ thống hiện đại này có thể đáp ứng các nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho bò sữa, nhằm tạo ra nguồn sữa chất lượng cao và giữ được đầy đủ những vi chất cần thiết cho con người. Công tác quản lý đàn bò được TH thực hiện vi tính hóa hoàn toàn bằng công nghệ gắn chip điện tử ở chân trên từng cá thể bò. Điều này giúp kiểm soát tình trạng sức khỏe, phát hiện động dục và bệnh viêm vú sớm ở bò.

Bò được vắt sữa trong hệ thống hoàn toàn tự động, khép kín; sữa được làm lạnh trực tiếp trước khi đi vào bồn chứa nhằm đảm bảo nguồn sữa sản xuất ra luôn đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Sau đó, sữa bò được vận chuyển đến nhà máy chế biến và đóng gói hiện đại, để sản xuất ra những sản phẩm sữa tươi sạch, thơm ngon và giàu dinh dưỡng. Tất cả các khâu này đều được kiểm soát chặt chẽ bởi đội ngũ chuyên gia hàng đầu người Israel và công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới.

Theo đánh giá từ một chuyên gia ngành sữa, Nhà máy chế biến sữa tươi sạch TH là một mắt xích quan trọng trong quy trình sản xuất sữa tươi sạch đồng bộ khép kín của tập đoàn này TH. Nhiệm vụ chính của nhà máy là chế biến, đóng gói những hộp sữa tươi sạch và các sản phẩm làm từ sữa tươi sạch đa dạng về chủng loại, hương vị và bao bì để chuyển tới đơn vị phân phối ra thị trường.

Ông Ngô Minh Hải, Phó tổng giám đốc Tập đoàn TH cho biết, nhà máy sữa tươi sạch TH giai đoạn 1 đạt công suất 200.000 tấn/năm (giai đoạn đầu của “siêu nhà máy” với tổng công suất 500.000 tấn/năm). Các dây chuyền chế biến và đóng gói được quản trị với công nghệ đo lường và điều khiển hiện đại bậc nhất thế giới: Siemens, Danfoss, Grundfoss.

Trong giai đoạn tiếp theo của dự án (2013- 2017), TH sẽ đưa vào vận hành toàn bộ “siêu nhà máy” này với tổng công suất dự kiến lên tới 1.700 tấn/ngày (hơn 500.000 tấn/năm, tương đương 500 triệu lít/năm). Đây sẽ là nhà máy sữa có quy mô lớn nhất Đông Nam Á và thuộc loại hiện đại nhất thế giới.

Sau gần 3 năm hoạt động, thương hiệu TH true MILK đang chiếm hơn 30% thị phần trong phân khúc sữa tươi tiệt trùng, là minh chứng cho vai trò then chốt của công nghệ cao đối với nông nghiệp.

TH true MILK và những đóng góp quan trọng cho ngành sữa trong nước:


- Tiên phong ghi rõ xuất xứ nguồn nguyên liệu đầu vào trên bao bì, đây là yếu tố quan trọng nhất cấu thành nên chất lượng sữa.

- Được cấp phép ghi trên bao bì là sữa tươi sạch.

- Tiên phong đưa ra kiến nghị với các cơ quan chức năng nhằm minh bạch hóa thị trường sữa Việt Nam.

(Nguồn: TH true MILK)

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Bí quyết quản lý nhân viên ở Thung Lũng Silicon

Các nhà quản lý IT ở Thung lũng Silicon đang phải đối mặt với những thách thức có một không hai, không gì khó khăn hơn là phải giúp cho công ty trở nên sáng tạo, phát triển thần tốc, hiểu biết về kỹ thuật bậc nhất trong vùng. Rất nhiều người đã tìm ra những cách thức mới mẻ để cổ vũ nhân viên và giúp tổ chức của mình trở nên linh động. Nhiều cách có vẻ mạo hiểm nhưng không một nhà quản lý nào có thể phủ nhận tác dụng của nó.


Dưới đây là ba lý thuyết quản lý quan trọng tại Thung Lũng Silicon.


Xử lý một quyết định chuyên môn giống như quyết định kinh doanh cấp bách

Tại Thung Lũng Silicon, sự chậm trễ được ví như một tội ác. Các quyết định chuyên môn có tác dụng hỗ trợ cho các sản phẩm mau lẹ, các chu kỳ đổi mới và những thay đổi cốt lõi trong nhiều lĩnh vực (như di động, điện toán đám mây (Cloud), và dữ liệu lớn (big data)).

Các CIO của Silicon Valley không dành quá nhiều thời gian để chỉ đạo và đánh giá, họ ra quyết định rất nhanh mà hiếm nơi đâu làm vậy. “Khi bắt đầu một dự án chúng tôi luôn phán đoán vấn đề nghiêm túc”, Tom Gill, CIO Plantronics cho biết, “Chúng tôi ra quyết định và bắt tay làm”.

Các quyết định ít khi được đưa ra dựa theo lợi nhuận đầu tư truyền thống. Để vượt mặt các đối thủ, CIO không được phép thực hiện những quy trình phê duyệt chậm chạp như ta thường thấy trong những ngành công nghiệp kém năng động khác.

Dĩ nhiên, việc phê duyệt ít nghiêm ngặt cũng chứa nhiều rủi ro. Vì vậy họ sẽ tăng tốc cho chu kỳ quản lý để nếu có trục trặc thì thiệt hại cũng sẽ bị giới hạn và tình thế được xoay chuyển nhanh chóng. Để luôn trong trạng thái năng động, các công ty như NetApp thường lên sơ đồ năng lực hàng năm, quản lý quỹ và các dự án theo quý chứ không theo năm.


Càng nhiều người tham gia, đổi mới càng nhanh

Tại eBay có một ngày trong tháng không cho phép họp hành. Vào ngày đó, “tất cả mọi người chỉ được phép suy nghĩ”, Scott Seese, CIO eBay cho biết “Tôi khuyến khích họ dùng thử dịch vụ của công ty lẫn đối thủ và cùng nghe điện thoại với các đại lý dịch vụ khách hàng của công ty”.

Sau khi các nhân viên tiến hành bàn luận về các nhược điểm hiện có, nhà phát triển tổ chức một buổi hackathon kéo dài 30 tiếng để tìm ra giải pháp. Ba hoặc bốn giải pháp tốt nhất sẽ được thử nghiệm và tiến hành. Kết quả được chứng thực qua việc tận dụng ưu thế đám đông nhân viên (crowdsourcing).

Cách thức “số đông cùng tham gia” này là một sản phẩm của văn hóa mở trong Thung lũng Silicon với tiêu chí: “Chia sẻ thông tin, đánh bại bí mật; kinh nghiệm thực tế dưới đưa lên chiến thắng kế hoạch trên đổ xuống; thất bại là một sự lựa chọn (miễn là học hỏi được điều gì đó và nhanh chóng phục hồi từ thất bại)”.

Việc các công ty tại đây sử dụng rộng rãi công nghệ mã nguồn mở là một điều tương tự. Để phát triển nhanh chóng và chất lượng, các nhà phát triển chú trọng phần mềm xây dựng bởi một nhóm cộng đồng hơn là bởi một công ty đơn lẻ. Các CIO hiểu rằng họ chỉ nên chấp nhận rủi ro ở mức vừa phải. Do đó các công ty như Google, Facebook… chú trọng quản lý rủi ro công nghệ bằng những công cụ và kỹ thuật thử nghiệm phần mềm rất hiệu quả.


Phát triển nhân viên dù đồng nghĩa với việc họ sẽ ra đi         

Các CIO của Thung lũng Silicon dành rất nhiều tâm trí để biến công ty mình thành một nơi hấp dẫn để làm việc mà ai cũng mong muốn được đặt chân tới. Nhưng họ biết cũng rất khó để níu giữ những nhân viên nhiều tham vọng khi có những cơ hội tốt hơn xuất hiện. Hiệu quả của việc này không cao vì số lượng cơ hội tại đây chưa chắc đã nhiều. Nhiều CIO đã xử lý bằng cách chuyển nhóm IT của công ty sang địa phương khác hoặc thậm chí ra nước ngoài.

Một vài CIO khác lại chọn cách khai thác tối đa những tài năng mình đang nắm giữ. Họ đã chuẩn bị những nhân viên khá nhất của mình cho các vị trí lãnh đạo tương lai, mặc dù biết rõ rằng những người này có thể áp dụng những gì đã được học vào nơi khác. “Chúng tôi muốn họ trưởng thành, học hỏi và có tầm ảnh hưởng, nên chúng tôi ủy quyền cho họ”, David Henke, phó chủ tịch cấp cao tại LinkedIn cho biết. Công ty của ông luôn có những chương trình lãnh đạo và dìu dắt cho nhân viên.

Bỏ qua phân tích tỉ lệ hoàn vốn đầu tư, sử dụng các quyết định chuyên môn số đông, đào tạo nhân viên tài giỏi là những điều khá độc đáo. Mặc dù chưa thực sự phù hợp với mọi vị trí, mọi công ty, nhưng đây là những gợi ý thú vị cho các công ty IT nhằm trở nên nhạy bén, sáng tạo và quản lý nhân lực tốt hơn.

Thùy An

Theo Trí Thức Trẻ/BusinessWeek

Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Kênh phân phối hàng Việt ngày càng bị thu hẹp

Hàng Việt đang bị lép vế trên sân nhà, thậm chí dần bị đánh bật khỏi các kênh bán hàng như chợ, siêu thị, lẫn kênh phân phối đưa hàng về nông thôn.

Đó là ý kiến của bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp (DN) Hàng Việt Nam chất lượng cao kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ DN (BSA), tại hội thảo “Động thái DN Việt Nam sáu tháng đầu năm và dự báo sáu tháng cuối năm 2013” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức ngày 9-7, tại TP.HCM.

Bị “ép sân” dữ dội

. Phóng viên: Trái với dự báo sáu tháng cuối năm 2013 của VCCI rằng tình hình sản xuất, kinh doanh của DN sẽ khởi sắc, bà lại nhận định DN Việt sẽ khó khăn nhiều vì bị cạnh tranh về kênh phân phối, khó tìm đầu ra. Cụ thể những khó khăn đó là gì?

+ Bà Vũ Kim Hạnh: Ở hầu hết các kênh phân phối, hàng Việt đang bị lép vế trước các công ty đa quốc gia và nhãn hàng riêng. Thông tin 80%-90% hàng hóa tại siêu thị là hàng Việt Nam nhưng thực chất toàn là hàng do DN Việt gia công cho công ty đa quốc gia, hàng do công ty đa quốc gia sản xuất hoặc nhãn hàng riêng của siêu thị. Còn hàng Việt “gốc” chủ yếu do các DN Việt nhỏ và vừa sản xuất thì rất yếu, đã bị đánh bật ra khỏi hệ thống siêu thị từ lâu.


Hàng Việt “gốc” chủ yếu do các DN Việt nhỏ và vừa sản xuất thì rất yếu, đã bị đánh bật ra khỏi hệ thống siêu thị từ lâu. Ảnh minh họa: TÚ UYÊN

BSA đã có buổi làm việc với lãnh đạo các siêu thị Big C, Co.opmart xem xét lại khó khăn của hàng Việt, bàn cách hỗ trợ. Đại diện Big C thừa nhận thực trạng thị phần hàng Việt trong siêu thị rất nhỏ. Phía siêu thị sẵn sàng hỗ trợ nhưng chắc phải 3-4 năm nữa may ra mới đủ sức cạnh tranh.

Thứ hai là kênh phân phối ở chợ. Tưởng chừng đây sẽ là phân khúc thị trường phù hợp cho hàng Việt phát huy sức mạnh nhưng cũng lâm vào cảnh hết sức khó khăn. Các công ty đa quốc gia vẫn chiếm ưu thế với vốn mạnh, nhân lực, biết cách chăm sóc tiểu thương như huấn luyện cách bán hàng, liên kết… Kết quả là các tiểu thương nay đã biết liên kết gây sức ép trở lại với DN sản xuất, đem đấu giá không gian trưng bày sản phẩm trong chợ với giá cao. Khi đó chỉ có công ty đa quốc gia đủ sức thuê lại, đẩy hàng Việt đến tình trạng sắp hết cửa bán hàng ở chợ.

. Vậy chỉ còn kênh phân phối hàng về nông thôn là còn triển vọng?

+ Ngay cả ở nông thôn, hàng Việt cũng dần bị đánh văng khỏi thị trường. Chỉ 10%-15% người tiêu dùng nông thôn dùng hàng Việt, nhiều mặt hàng như bột giặt, nước rửa chén có cùng chất lượng nhưng hàng ngoại luôn chiếm lĩnh, nhiều DN Việt cùng ngành phải chuyển sang làm gia công. Đặc biệt, hàng Trung Quốc nhái nhãn hiệu Việt mặc sức tung hoành ở thị trường nông thôn khiến hàng Việt khó trụ lại.

Tôi không đồng ý với con số 8,9% DN muốn đưa hàng về nông thôn mà VCCI đưa ra. VCCI đã khảo sát những DN nào? Tôi nghĩ chỉ có những DN ngành bất động sản, xuất khẩu mới nói như vậy, còn hầu hết các DN sản xuất đều muốn đưa hàng về nông thôn.

Phải đổi mới công nghệ quản trị

. Vậy nguyên nhân nào khiến hàng Việt bị đánh bật khỏi các kênh phân phối ngay trên sân nhà?

+ Ngoài nguyên nhân phần lớn DN Việt có quy mô nhỏ và vừa, vốn yếu, năng lực hạn chế thì sự thiếu liên kết giữa các DN đã làm suy giảm sức mạnh của hàng Việt tại thị trường trong nước. Ngoài ra, DN Việt thiếu sự giúp đỡ từ các địa phương trong việc đưa hàng về nông thôn. Để đưa hàng đến vùng sâu, vùng xa cần triển khai nhiều hạng mục, truyền thông trước nửa tháng, phải vận động nông dân đến tập huấn kỹ thuật, vận động tiểu thương đến nghe hướng dẫn kỹ năng bán hàng… Các địa phương cho rằng các việc này tốn kém thời gian, khắt khe về chất lượng hàng hóa quá, nói thẳng ra là không có lợi lộc gì nên họ không nhiệt tình.

Một nguyên nhân khác là hàng giả, hàng nhái. Dường như hàng lậu thì các cơ quan chức năng siêng kiểm soát, xử phạt nghiêm, còn hàng nhái, hàng giả thì không được quan tâm lắm. Tôi biết nguyên nhân là vì hàng lậu dễ kiểm soát, xử lý, nếu bắt được vụ lớn lại được thưởng. Còn hàng nhái, hàng giả khó kiểm soát, khó bắt được vụ lớn.

. Giải pháp nào cho DN Việt thoát khỏi khó khăn trong thời gian tới?

+ Tình hình sản xuất, kinh doanh từ nay đến cuối năm của DN Việt chắc chắn sẽ khó khăn hơn. Nếu không chịu đổi mới công nghệ kỹ thuật trong sản xuất sản phẩm, công nghệ quản trị DN thì trong 2-3 năm tới, với các hiệp định mậu dịch tự do, hàng hóa các nước sẽ tăng lên bất ngờ và đánh bật hàng Việt ra khỏi sân nhà.

Trên thực tế đã có một vài DN Việt thành công nhờ đổi mới công nghệ, cách quản trị như Rạng Đông, Vinamilk, Saigon Food… Gần đây có thông tin một số thực phẩm làm từ gạo đã được người tiêu dùng trong nước tiêu thụ mạnh vì lo ngại về sự an toàn của thực phẩm nước ngoài. Đây cũng là hướng đi đúng cho DN Việt, nếu biết tận dụng nguồn nguyên liệu thế mạnh trong nước, sản xuất sản phẩm mới để cạnh tranh. Ngoài siêu thị, DN Việt cần tìm cách duy trì thương hiệu Việt qua những kênh phân phối khác.

Xin cảm ơn bà.

Tác Giả: QUANG HUY

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Những nỗi hận vì hợp tác với đại gia nước ngoài

Kỳ vọng hợp tác với các ông lớn ngoại dần biến thành nỗi thất vọng bởi kết quả không diễn ra như mong muốn, thậm chí đi ngược lại với mục đích ban đầu. Nhiều DN Việt giờ đây đang hối hận sau chuỗi ngày ngắn ngủi bắt tay với cổ đông nước ngoài.

Đứt chân vì đối tác ngoại
Chỉ khoảng 6 năm sau khi bắt tay với Coca Cola, các đối tác nội trong liên doanh như Vinafimex và Nước Giải Khát Đà Nẵng đã lần lượt bị ông trùm đồ uống Mỹ cho ra rìa.
Kỳ vọng của các DN nội ban đầu có lẽ rất lớn khi mà thị trường nước giải khát trong nước bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ và đối tác của họ sở hữu một thương hiệu hàng đầu thế giới. Nhưng đến nay, có lẽ quyết định bán cổ phần cho Coca Cola là một điều đau đớn, là bài học điển hình thất bại khi liên doanh với nước ngoài.
Sau gần 20 năm, Coca Cola Việt Nam đã trở thành một thương hiệu lớn ở thị trường nội địa nhưng đại gia đồ uống này cho đến nay vẫn chưa đóng một đồng thuế TNDN nào do liên tục khai lỗ.
Đại diện của Coca Cola cho rằng, tầm nhìn của tập đoàn này ở Châu Á - Thái Bình Dương là 2020, những khoản đầu tư mới chỉ mang ý nghĩa xây dựng vị trí dẫn đầu tại thị trường Việt Nam. Điều đó có nghĩa rằng, tập đoàn này sẽ tiếp tục mở rộng, doanh thu tiếp tục tăng nhưng sẽ vẫn lỗ. Đây là lý do khiến cho đối tác Việt Nam trong liên doanh chịu không nổi phải bán cổ phần cho đối tác với giá rẻ và rút lui.
Coca Cola, Tribeco, Bibica, Dạ Lan, Thanh Hương, nhà đầu tư, ngoại, nội, thâu tóm, mua bán, sáp nhập, FDI, chuyển giá, trốn thuế
CocaCola được cho là một nỗi xấu hổ đối với DN FDI Việt Nam.
Việc DN nội bị loại ra khỏi liên doanh hay bị thâu tóm diễn ra khá phổ biến ở một thị trường đang phát triển như Việt Nam. Cuối năm 2012, Công ty cổ phần nước giải khát Sài Gòn - Tribeco (TRI), một thương hiệu nước giải khát hàng đầu tại Việt Nam cũng đã buộc phải quyết định giải thể do thua lỗ triền miên. Mọi hoạt động của Tribeco Sài Gòn sẽ do Tribeco Bình Dương tiếp nhận.
Theo quyết định, sau khi giải thể, cổ đông TRI nhận về khoản tiền 2.300 đồng/cổ phiếu. Đây là một khoản tiền bèo bọt nhưng đành phải chấp nhận khi vốn chủ sở hữu cả âm trăm tỷ đồng.
Các nhà đầu tư đều biết rằng đây là một vụ thâu tóm. Thương hiệu Tribeco với 20 năm phát triển đã rơi vào tay Tribeco Bình Dương, vốn do nhà đầu tư nước ngoài nắm 100% vốn. Trong khoảng 5-6 năm liên tục, Tribeco đổ tiền vào xây dựng Tribeco Bình Dương cũng là lúc một cổ đông nước ngoài đầy kinh nghiệm Uni-President Việt Nam giành quyền kiểm soát tại Tribeco và kiểm soát toàn bộ Tribeco Bình Dương.
Tribeco Bình Dương do Uni-President chi phối đã biến Tribeco Sài Gòn thành nhà bán hàng thuần túy, không sản xuất. Tiền của Tribeco được đổ ra ồ ạt xây dựng hệ thống bán hàng, quảng bá sản phẩm... trong khi nhà sản xuất lại là Tribeco Bình Dương. Việc thua lỗ triền miên, bỏ cuộc trong một cuộc chơi đầy toan tính như vậy là khó tránh khỏi.

Sai lầm khó sửa chữa
Trong trường hợp của Tribeco hay các đối tác nội trong liên doanh Coca Coca Việt Nam, kết cục đã rõ. Sự thua thiệt của “bên” nội là không phải bàn cãi. Trên thực tế, vẫn còn nhiều DN hiện tiến thoái lưỡng nan với mối lương duyên nội-ngoại như trên. Trước thềm đại hội cổ đông 2013, đại diện Bibica (BBC) đã phải thừa nhận sai lầm khi hợp tác với tập đoàn Lotte của Hàn Quốc.
“Cuộc chiến” giữa BBC và Lotte chưa đến hồi kết do một cổ đông lớn khác là Chứng khoán Sài Gòn (SSI) không tham dự đại hội, chưa bày tỏ chính kiến. Tuy nhiên, mâu thuẫn dường như đã lên rất cao khi mà ban lãnh đạo còn không tin tưởng lẫn nhau và muốn một bên thứ ba độc lập kiểm phiếu.
Việc đối tác ngoại (nắm giữ 38%) muốn đổi tên Bibica thành Lotte và kiểm soát hệ thống phân phối cho thấy tập đoàn này muốn biến Bibica thành công ty con của họ. Kỳ vọng về sự hợp tác toàn diện giữa Bibica - Lotte, từ quản lý, công nghệ đến kỹ thuật, xuất nhập khẩu… giờ đây thực sự đã trở thành nỗi thất vọng.
Coca Cola, Tribeco, Bibica, Dạ Lan, Thanh Hương, nhà đầu tư, ngoại, nội, thâu tóm, mua bán, sáp nhập, FDI, chuyển giá, trốn thuế
Bibica hối hận về mối quan hệ với Lotte.
Không chỉ Bibica, giới tài chính trong nước trong thời gian gần đây tỏ ra khá lo ngại về hiện tượng các doanh nghiệp Việt bị ngoại hóa, bị thâu tóm. Cơ sở để nhiều chuyên gia đưa ra cảnh báo này là dòng vốn ngoại M&A đang chảy vào thị trường trong nước rất mạnh mẽ, tập trung vào nhiều ngành trong đó có vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, bánh kẹo, nước, cà phê…
Trường hợp gây ra nhiều lo ngại là ngành nhựa trong nước với động thái một đại gia ngoại PCL liên tục gia tăng cổ phần tại Nhựa Tiền Phong và Nhựa Bình Minh. Chưa biết kết quả như thế nào, nhưng rất có thể đây là bước đầu trong chiến lược trở thành nhà sản xuất và phân phối nhựa hàng đầu tại Việt Nam, bên cạnh thị trường Thái Lan, nơi TPC nắm 50% thị phần. Hay như sự thống trị của đối tác ngoại và sự lép vế của nội trong hoạt động của đại gia BigC như hiện nay.
Không chỉ rót tiền vào các thương vụ lớn (như SCG vào Prime, TPG và KKR vào MSN, Semen Gresik vào Xi măng Thăng Long…), các tập đoàn lớn cũng như quỹ đầu tư nước ngoài đang rót tiền cả vào các doanh nghiệp nhỏ trong nước. Hoạt động đầu tư tài chính đôi khi trở thành các thương vụ thâu tóm, sáp nhập.
Việc thu hút vốn ngoại là cần thiết trong bối cảnh doanh nghiệp nội thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu kinh nghiệm quản lý… Tuy nhiên, điều quan trọng có lẽ nằm ở khâu chọn đối tác. Việc đưa ra các ràng buộc như cổ phần tối đa, nguyên tắc thị trường trong việc lựa chọn nguyên liệu đầu vào, đầu ra… có thể là cần thiết để đảm bảo sự an toàn, sự ổn định của doanh nghiệp và hạn chế khả năng thao túng của các cổ đông lớn, tránh vết xe đổ của các sự vụ đau lòng vừa qua.

Mạnh Hà

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

TH Milk không theo kịp thị trường?

Sau 3 năm có mặt trên thị trường, tới giờ này TH Milk vẫn chưa xuất hiện tại phân khúc sữa chua - một phân khúc được những người trong ngành cho là “miếng bánh lợi nhuận hấp dẫn”.



Phi nước đại

Phải thừa nhận, các chuyên gia chiến lược thương hiệu của tập đoàn TH vô cùng giỏi trong việc tạo dựng câu chuyện hấp dẫn, gắn với sự ra đời của thương hiệu TH True MILK.

Chỉ sau 3 năm ngắn ngủi có mặt trên thị trường, thương hiệu này đã nhanh chóng làm cho người tiêu dùng choáng ngợp về mức độ thành công của họ (dù chưa có kiểm chứng), lấp đầy các trang báo mạng bằng những tít bài rất “sốc” (dù đôi khi có tác dụng ngược) và tấn công trực diện vào người khổng lồ Vinamilk (cuộc chiến truyền thông năm 2012).

TH giỏi ở chỗ biết chọn đúng thời điểm để truyền thông cho thương hiệu của mình, qua đó dẫn dắt người tiêu dùng đến thẳng các kệ sữa gắn mác TH True MILK trong siêu thị.

Những ai làm trong ngành đều biết, bản chất của ngành sữa trên thế giới là một ngành kinh doanh vận hành liên tục. Và chiếc bản lề mở ra cánh cửa thành công hay khép lại, chính là luồng tiền xoay chuyển không ngơi nghỉ, tiếng Anh gọi là “Money in, money out”.

Lấy ví dụ, với số lượng đàn bò của một công ty sữa khoảng 10.000 con thì công ty đó có thể chỉ cần đầu tư xây dựng một nhà máy công suất nhỏ. Khi công ty kinh doanh tốt và lợi nhuận khả quan thì họ sẽ dùng một phần để tái đầu tư nhằm tăng số lượng đàn bò lên gấp đôi.

Đến đây, câu chuyện trở nên phức tạp hơn nhiều, đòi hỏi doanh nghiệp phải tiếp tục mở rộng nhà máy, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ, máy móc, hệ thống bồn chứa, kho lạnh… để đáp ứng được sản lượng sữa gia tăng tương ứng.


TH Milk lỡ một nước cờ? 1Do ngành sữa là ngành kinh doanh phát triển không ngừng nghỉ, cho nên vấn đề lớn nhất TH phải đối mặt chính là sự liên tục của dòng tiền.

Sự việc diễn ra hệt như vậy với TH. Chỉ sau ba năm ra đời, từ số lượng đàn bò vỏn vẹn hơn 1.000 con, đến nay công ty đã nâng lên mức khoảng 26.000 con. Trong số này chỉ có 13.000 con cho sữa, chiếm tỷ lệ 50%.

Tạm tính bình quân mỗi con bò cho khoảng 27 lít sữa/ngày trong điều kiện thời tiết ôn đới (mùa đông ở miền Bắc và miền Trung, tức là từ tháng 11 năm trước đến tháng 3-4 năm sau) thì lượng sữa của TH vào khoảng 351.000 lít sữa/ngày.

Vào mùa hè nóng nực mỗi con bò chỉ cho tối đa 20 lít sữa/ngày. Gặp trời nóng, bò có thể bị stress nhiệt, gây ảnh hưởng đến chất lượng sữa. Về nguyên tắc, việc chăn nuôi bò sữa ở Nghệ An tạo ra thách thức lớn hơn nhiều cho chủ đầu tư so với những vùng có khí hậu thuận lợi hơn như Bảo Lộc hay Mộc Châu.

Theo tính toán, với diện tích một héc ta nuôi bò sữa tại Bảo Lộc có thể tạo ra mức doanh thu trung bình khoảng 100 triệu đồng/năm thì ở Nghệ An con số này chỉ vào khoảng 20 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, với một dự án có quy mô lớn như của TH Milk thì tất cả các bất lợi và nhược điểm về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng… đều có thể khắc phục triệt để bằng công nghệ hiện đại. Đây chính là thế mạnh lớn mà TH Milk cần khai thác triệt để.

Dự án nhà máy sữa lớn mà tập đoàn này đầu tư ở Nghĩa Đàn, Nghệ An được khởi công ngày 14/5/2010 có hệ thống trang trại quy mô lớn nhất Đông Nam Á với tổng mức đầu tư 1,2 tỷ USD. Toàn bộ dự án nằm trong vùng đất rộng 37.000 ha. Theo thông tin đăng tải trên trang web chính thức của công ty, họ “áp dụng chu trình khép kín về sản xuất sữa tươi sạch theo công nghệ hiện đại nhất thế giới hiện nay”. Cụ thể, đàn bò nhập khẩu từ những nước chăn nuôi bò sữa nổi tiếng thế giới như New Zealand, Mỹ, Úc… để đảm bảo bò cho ra loại sữa tốt nhất.

Hệ thống trang trại được áp dụng các tiêu chuẩn và quy cách chuồng trại chăn nuôi “tiên tiến nhất trên thế giới” (có mái che, gắn quạt mát, bò được nghe nhạc, tắm hàng ngày…). Hệ thống vắt sữa ở đây hoàn toàn tự động và sữa vắt ra được kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo quản ở điều kiện tốt nhất. Công nghệ tiệt trùng của nhà máy sữa TH cũng được công ty này giới thiệu là “hiện đại bậc nhất”.

Trên thực tế, khó có lý do nào để nghi ngờ về quy mô và mức độ hiện đại của nhà máy sữa TH. Nhưng nút thắt của TH lại nằm ở điểm này.

Nhưng có lỡ nước cờ?

Sau một thời gian vận hành nhất định, dây chuyền máy móc thiết bị của TH được khấu hao, số lượng đàn bò tăng và công ty có khả năng tối ưu hóa sản lượng sữa ngày càng tăng do đàn bò cung cấp.

Nếu xét về mặt hiệu quả kinh doanh, công ty này chắc chắn được hưởng lợi trong dài hạn. Mặt khác, mặc dù chi phí vốn đầu tư ban đầu bỏ ra rất lớn (1,2 tỷ USD như công bố của TH), song giá sữa mà TH bán ra thị trường sẽ giảm dần trong tương lai do các chi phí sản xuất cũng giảm dần vì nhà xưởng máy móc đã khấu hao, trong khi lượng sữa cung ứng cho thị trường sẽ tăng lên tương ứng với sự gia tăng đàn bò.

Vậy đâu là nút thắt? Hãy tưởng tượng một con người đang trong giai đoạn trưởng thành, càng lớn càng cần hấp thụ nhiều thực phẩm hơn so với hồi bé, để phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ. “Đứa trẻ” TH cũng cần được “cho ăn” liên tục, ngày càng nhiều hơn để không bị suy dinh dưỡng. Do ngành sữa là ngành kinh doanh phát triển không ngừng nghỉ, cho nên vấn đề lớn nhất TH phải đối mặt chính là sự liên tục của dòng tiền. Nó chả khác nào dòng máu lưu thông trong cơ thể vậy.

Ở giai đoạn ban đầu với đàn bò quy mô nhỏ, vốn đầu tư cho hệ thống trang trại có thể chỉ cần vài trăm tỷ đồng. Nhưng khi đàn bò phát triển theo cấp số nhân, bắt buộc công ty phải mở rộng nhà máy ở quy mô tương ứng. Và đằng sau bao giờ cũng là câu hỏi đầu tiên: “Tiền đâu”? Mức độ hiện đại hóa của dây chuyền sản xuất càng được nâng cao thì càng cần nhiều vốn. Cho nên nhiều người trong ngành hay nửa đùa nửa thật, đằng sau “Câu chuyện thật” (Slogan chính thức của TH True MILK) là nguồn “tiền thật” và ngay lập tức.


TH Milk lỡ một nước cờ? 2Cho dù có khó khăn, vốn dự án chưa giải ngân được, TH vẫn có kế hoạch khai trương nhà máy sữa có công suất 600 tấn sữa/ngày thuộc giai đoạn 1 của cụm nhà máy mang tên “Mega Plant” có tổng công suất lên tới 1.700 tấn sữa/ngày.

Những gì đang diễn ra tại TH cho thấy, tham vọng của họ là cực kỳ lớn. Khát vọng mãnh liệt là tốt, nhưng có lẽ ngay từ khi bắt đầu dự án này, các nhà quản trị của tập đoàn TH chưa hình dung hết sự khắc nghiệt của ngành sữa. Không giống như trong lĩnh vực địa ốc, cứ vay vốn, xin đất rồi xây nhà lên bán đi là thu tiền về. Tốc độ thu hồi vốn của một công ty sữa lâu hơn nhiều, lại đòi hỏi tái đầu tư liên tục.

TH đặt mục tiêu nâng số lượng đàn bò lên đến 137.000 con vào năm 2017 trong khi hiện nay họ mới có 26.000 con. Có nghĩa là trong vòng 4 năm tới, TH phải tăng thêm tới 111.000 con. Tính trung bình mỗi năm phải tăng thêm 27.750 con. Bài toán này tương đối khó giải với TH nếu nhìn tốc độ tăng trưởng bình quân của đàn bò tính từ khi dự án TH Milk ra đời năm 2010 đến nay.

Trong báo cáo “Khảo sát, đánh giá tình hình sản xuất và thị trường sữa năm 2012, dự báo năm 2013” của TS. Tống Xuân Chinh, Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) về thị phần sữa nước, Vinamilk dẫn đầu với 40-50%, Dutch Lady 25%, Mộc Châu 10%, IDP 5%, Hanoimilk 5%, các công ty khác 15%. Không thấy nhắc tới TH Milk, nhưng ước tính thị phần sữa nước của công ty này riêng ở phía Bắc là khoảng 30%.

Theo lời bà Thái Hương, Chủ tịch Tập đoàn TH vào ngày 8/3/2013, cho dù có khó khăn, vốn dự án chưa giải ngân được, TH vẫn có kế hoạch khai trương nhà máy sữa có công suất 600 tấn sữa/ngày thuộc giai đoạn 1 của cụm nhà máy mang tên “Mega Plant” có tổng công suất lên tới 1.700 tấn sữa/ngày.

Hiện tại, TH chỉ có duy nhất sữa nước (sữa tươi tiệt trùng) bao gồm nhiều dòng sản phẩm như sữa nguyên chất 180 ml, sữa ít đường 180 ml, sữa có đường 110 ml, sữa hương dâu 180 ml và sữa hương sô-cô-la 180 ml. Năm 2012, họ đã giới thiệu thêm ba sản phẩm mới loại 180ml là sữa tươi tiệt trùng bổ sung collagen; sữa tươi tiệt trùng bổ sung phytosterol; sữa tươi tiệt trùng bổ sung canxi. Tuy nhiên, việc chậm chân trong cuộc đua ở phân khúc sữa chua phần nào làm giảm hiệu quả kinh doanh của TH.

Nên nhớ, các tập đoàn sữa lớn trên thế giới như Danone đều có danh mục sản phẩm cực kỳ đa dạng chứ không chỉ riêng sữa. Và sữa chua là miếng bánh lợi nhuận cực kỳ hấp dẫn với các hãng sữa. Vậy nên các công ty tại thị trường Việt Nam, từ Vinamilk, FrieslandCampina cho đến IDP (thương hiệu sữa tươi Ba Vì mới tung ra sản phẩm sữa tươi, sữa chua Love’in Farm), Mộc Châu đều đã có các sản phẩm sữa chua riêng của họ. Mộc Châu còn có phô mai và IDP thì đã có sữa chua Love’in Farm từ đầu năm. Người khổng lồ Vinamilk thì có nhiều dòng sữa chua khác nhau.

Thị trường đang chờ xem TH đi lại nước cờ bị lỡ này như thế nào.

(Nguồn: Doanh Nhân)

Vì đâu nền kinh tế Việt Nam tuột dốc?

Sau 5 năm kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và gần 7 năm kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), kinh tế Việt Nam đang ở trong tình trạng khá bi đát. Có ý kiến đánh giá Việt Nam đã không may vì phải chịu tác động của khủng hoảng toàn cầu...
Tuy nhiên, người viết cho rằng những rắc rối hiện nay của Việt Nam chủ yếu là do những vấn đề nội tại chứ không phải tác động từ bên ngoài. Một trong những vấn đề chính là khu vực trong nước đã từ bỏ việc tận dụng lợi thế, tập trung cho sản xuất kinh doanh sang đầu cơ tài sản trong bối cảnh “căn bệnh Hà Lan” đã làm tổn hại nghiêm trọng sức cạnh tranh của khu vực sản xuất.


Kỳ vọng quá mức và thay đổi hành vi

Trước khi gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã đạt được những sự cải thiện đáng kể, nhất là sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) được ký kết và có hiệu lực từ năm 2001.

Những lợi thế đã được phát huy, xuất khẩu gia tăng mạnh, nhất là những mặt hàng liên quan đến nông nghiệp và thủy sản hoặc thâm dụng lao động như da giày và dệt may.

Nhiều doanh nghiệp, nhất là khu vực dân doanh sau sự cởi mở của Luật Doanh nghiệp năm 2000, tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ thực cho xã hội đã ăn nên làm ra với suất sinh lợi khá cao (vài chục phần trăm). Đây chính là nền tảng tạo ra mức tăng trưởng kinh tế 7-8% cho Việt Nam.

Khi gia nhập WTO, hầu hết người dân Việt Nam cũng như nhiều nhà đầu tư nước ngoài kỳ vọng các cơ hội sẽ được hiện thực hóa và Việt Nam sẽ có được tốc độ tăng trưởng kinh tế khả quan hơn. Những khoản tiết kiệm trong nước được mang ra cùng với một dòng vốn khổng lồ chảy vào Việt Nam đón đầu cơ hội.

Chỉ trong mấy tháng, chỉ số chứng khoán VN-Index đã tăng gần bốn lần và trong vòng hơn một năm, giá bất động sản cũng có mức tăng tương tự. Điều này có nghĩa rằng, nền kinh tế Việt Nam được kỳ vọng sẽ “nở ra” nhanh chóng, trong một tương lai thấy trước.

Giá như các doanh nghiệp tận dụng tốt cơ hội mở cửa, tiếp tục tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm thì kỳ vọng sẽ thành hiện thực. Kinh tế sẽ tăng trưởng cao hơn và giá trị chứng khoán và bất động sản tăng chóng mặt nêu trên sẽ trở nên hợp lý sau một thời gian.

Tuy nhiên, điều không may là hành vi của các doanh nghiệp và nhà đầu tư đã thay đổi. Nếu tiếp tục tập trung vào hoạt động kinh doanh hiện tại thì suất sinh lợi chỉ là hàng chục phần trăm, trong khi đầu tư vào các tài sản (cổ phiếu và bất động sản) thì con số có thể là hàng trăm, thậm chí hàng nghìn phần trăm. Một số người, trên thực tế, đã có được mức sinh lợi này

Khó có ai có thể cưỡng lại cám dỗ. Giá cổ phiếu và bất động sản tăng là thật, và lãi là thật. Thay vì tiếp tục tập trung các các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra của cải cho xã hội, nhiều người đã “nhảy” vào chứng khoán và bất động sản, mà nói chính xác là đi đầu cơ tài sản.

Sự chuyển hướng đồng loạt đã tạo ra cầu đột biến cả về hàng hóa và nguồn nhân lực trong khu vực tài sản. Việc kiếm tiền quá dễ dàng làm cho việc trả lương và chi tiêu trở nên hào phóng hơn.

Từ những mức lương không đến nỗi nào trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh trước đây, nhiều người đã có được những mức lương hay thu nhập chỉ nằm mơ mới thấy.

Lúc này mọi người chỉ tập trung vào việc mua mua - bán bán, chứ không còn “chí thú làm ăn” như trước đây. Những cơ hội đã không được tận dụng, trong khi rắc rối ngày một nhiều hơn và để lại hậu quả ngày hôm nay.

Thêm dầu vào lửa

Sau khi gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã bị nhiễm “căn bệnh Hà Lan” (Dutch Disease) mà nó được hiểu là dòng vốn lớn chảy vào làm đồng tiền trong nước lên giá dẫn đến hàng hóa sản xuất trong nước trở nên đắt đỏ hơn so với hàng hóa của các nước khác. Hậu quả là khu vực sản xuất trong nước trở nên kém cạnh tranh hơn. 

Nghiêm trọng ở chỗ là sự bất hợp lý trong các chính sách vĩ mô trong thời gian qua đã làm cho căn bệnh này trở nên trầm trọng hơn.

Đầu tiên phải kể đến sự bị động trong việc ứng phó với dòng vốn khổng lồ từ bên ngoài đổ vào Việt Nam trong năm 2007. Lúc bấy giờ, dường như Ngân hàng Nhà nước chỉ chú trọng làm một việc duy nhất là tung tiền đồng ra để mua USD mà “quên” mất các giải pháp trung hòa. Hậu quả là nền kinh tế bị “ngập lụt” tiền đồng. Lạm phát bắt đầu phi mã từ cuối năm 2007 và chạm mốc gần 30% vào cuối quý 1/2008.

Việc thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát chỉ được thực hiện trong một thời gian ngắn. Lấy lý do ứng phó với khủng hoảng tài chính thế giới và suy giảm sản xuất kinh doanh trong nước, chính sách tiền tệ đã tiếp tục được nới lỏng.

Việc “cố gắng” ổn định tỷ giá trong bối cảnh lạm phát cao như cú đánh kép vào khu vực sản xuất trong nước. Trong gian đoạn 2006-2012, mức giá chung của cả nền kinh tế Việt Nam đã tăng gấp đôi, tỷ giá tiền đồng so với USD chỉ tăng 30% đã làm cho các sản phẩm nhập vào Việt Nam (máy tính, điện thoại của Apple chẳng hạn) rẻ hơn, trong khi gạo hay các sản phẩm khác của ta đắt đỏ hơn.

Do vậy, không có gì ngạc nhiên khi mà rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp khốn khó trong hoạt động sản xuất kinh doanh buộc phải đóng cửa hay phá sản trong thời gian gần đây, cho dù họ không hề có những hoạt động đầu cơ tài sản.

Hơn thế, việc cho phép sở hữu các ngân hàng quá dễ dàng và thất thoát trong đầu tư và chi tiêu công do tham nhũng đã làm tăng tính “liều mạng” đầu cơ vào các tài sản. Ước muốn và khả năng giàu nhanh chóng mà không phải làm gì đã “thực tế hơn” đối với nhiều người.

Hậu quả là nhiều người trở nên “lười hơn”, chỉ muốn “ngồi mát ăn bát vàng”, chứ không còn chí thú làm ăn như trước. Hơn thế, "căn bệnh Hà Lan" đã làm cho sản xuất trong nước kém cạnh tranh hơn nên có muốn thì cũng khó mà mở rộng hoạt động.

Một nghiên cứu gần đây của chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright chỉ ra rằng, ba trong bốn động cơ của cỗ máy tăng trưởng Việt Nam gồm: khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế dân doanh và khu vực nông nghiệp đang gặp trục trặc. Chỉ có một ngoại lệ là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn đang ăn nên làm ra, do họ đã tận dụng được những lợi thế của nền kinh tế Việt Nam và miễn nhiễm được với những tác động tiêu cực.

Do vậy, nếu bỏ khu vực FDI sang một bên và chỉ phân tích ba khu vực còn lại thì nền kinh tế Việt Nam sẽ bi đát hơn nhiều, mà nguyên nhân chủ yếu là do ta chứ không phải do tác động từ bên ngoài.

Tiến thoái lưỡng nan

Trước khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đã chí thú làm ăn, tận dụng được lợi thế của Việt Nam để tập trung vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra của cải cho xã hội. Kết quả là các doanh nghiệp ăn nên làm ra, tăng trưởng kinh tế cao và tạo tâm lý lạc quan, hồ hởi cho toàn xã hội.

Ngược lại, sau khi gia nhập WTO, nhiều doanh nghiệp và cá nhân đã quay sang đầu cơ tài sản, bỏ bê các hoạt động sản xuất kinh doanh chính, dẫn đến thua lỗ và nợ xấu tăng cao.

Nhiều doanh nghiệp đang rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Nếu buông các hoạt động đầu cơ để tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi (ví dụ dịch vụ taxi chẳng hạn) thì sẽ tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội. Tuy nhiên, khi đó phần mất từ hoạt động đầu cơ sẽ cao hơn rất nhiều phần được từ hoạt động kinh doanh, và chủ doanh nghiệp có khả năng sẽ trắng tay.

Do vậy, hành vi hợp lý của nhiều doanh nghiệp là tiếp tục tập trung nguồn lực để duy trì các hoạt động có tính đầu cơ với hy vọng thị trường tài sản sẽ “nóng” trong tương lai để không chỉ tránh được tán gia bại sản mà còn có cơ hội làm giàu trở lại. Lúc này, nợ xấu ở các ngân hàng khó mà giải quyết và nguồn lực không được dành cho hoạt động sản xuất kinh doanh thực sự. Hậu quả là kinh tế Việt Nam tiếp tục khó khăn.

Hơn thế, còn một vấn đề rắc rối nữa là không đơn giản để một số người đã quen với mức thu nhập cao chuyển sang từ bỏ những hoạt động đầu cơ tài sản để quay lại các hoạt động sản xuất kinh doanh, với mức thu nhập thấp hơn nhiều. Một người đã khẳng định được tên tuổi trong ngành tài chính cho rằng có khi Việt Nam phải mất cả một thế hệ doanh nhân nữa may ra mới làm lại được.

Trong hoàn cảnh hiện nay, nếu tiếp tục bơm tiền thì nhiều người vẫn có cơ hội níu kéo các hoạt động đầu cơ đang thua lỗ và “mặc kệ” các hoạt động kinh doanh chính yếu có hiệu quả của mình.

Do vậy, thắt chặt tín dụng để buộc các doanh nghiệp phải cơ cấu lại có lẽ là giải pháp. Những người kinh doanh bất cẩn sẽ phải trắng tay, để những người có khả năng hơn tiếp quản và sử dụng các nguồn lực của xã hội hiệu quả hơn - đây chính là triết lý cơ bản của phá sản, hay sự phá hủy sáng tạo. Đương nhiên, đây chỉ là giải pháp cho vấn đề này và Việt Nam cần tiến hành ngay một sự cải cách sâu rộng, toàn diện và thực chất.

Huỳnh Thế Du
(Vneconomy)

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

P&G chuyển trọng tâm sang quảng cáo trực tuyến

“Đại gia” hàng tiêu dùng Procter & Gamble (P&G) hiện đang dành hơn 1/3 ngân sách quảng bá sản phẩm tại Mỹ để quảng cáo trực tuyến. Theo tờ Wall Street Journal, đây là một sự chuyển hướng mạnh mẽ trong bối cảnh, 2013 được dự báo sẽ là năm đầu tiên trong lịch sử người Mỹ dành nhiều thời gian trên mạng hơn xem truyền hình.


CEO A.G. Lafley của P&G cho biết, chi cho hoạt động quảng bá sản phẩm trên truyền thông kỹ thuật số như quảng cáo trực tuyến và trên các mạng xã hội hiện chiếm 25-35% tổng ngân sách quảng cáo của hãng. Riêng tại Mỹ, thị trường lớn nhất của P&G, thì mức chi đã đạt tới gần cận trên của khoảng dao động được đề cập.

Như vậy, tỷ lệ chi cho quảng cáo trực tuyến của P&G đã vượt mức trung bình ước tính vào khoảng 20-25% so với tổng ngân sách quảng cáo như thường thấy ở các công ty nói chung.

Con số này cũng cho thấy rõ nét mối đe dọa mà quảng cáo trực tuyến gây ra cho các dạng quảng cáo truyền thống như quảng cáo trên báo in.

P&G dự kiến chi nhiều hơn cho quảng cáo trong tài khóa hiện tại. Việc hãng này ngày càng nhấn mạnh vào quảng cáo trực tuyến phản ánh xu hướng dịch chuyển về phía Internet của người tiêu dùng, đồng thời cũng là mong muốn của công ty muốn cải thiện hiệu quả của những khoản tiền chi ra cho quảng cáo.

Các nhà điều hành của P&G nói rằng, trong nhiều trường hợp, truyền thông trên các phương tiện kỹ thuật số là cách nhanh hơn và rẻ hơn để các thương hiệu của hãng tiếp cận với người tiêu dùng, và cũng để nhận được phản hồi nhanh hơn từ phía khách hàng.

“Tóm lại, chúng tôi cần và muốn có mặt ở nơi mà có người tiêu dùng ở đó. Người tiêu dùng thì đang đến ngày càng nhiều hơn với Internet và di động”, một phát ngôn viên của P&G nói.

Ông Lafley mới một lần nữa nhậm chức CEO tại P&G. Ông từng giữ cương vị này trong thời gian từ năm 2000-2009. Việc ông Lafley trở lại ghế CEO diễn ra trong bối cảnh P&G chứng kiến lợi nhuận quý 2 giảm 48% so với cùng kỳ năm ngoái, còn 1,9 tỷ USD, do chi phí tái cơ cấu và một số chi phí khác. Doanh thu của hãng trong quý tăng nhẹ lên 20,7 tỷ USD.

Hoạt động kinh doanh của P&G được phát triển trên cơ sở nghiên cứu sâu về người tiêu dùng và những sản phẩm chất lượng được quảng cáo rộng rãi như bột giặt Tide, kem dưỡng da Olay… mà chủ yếu là quảng cáo trên truyền hình. Nhưng nền tảng đó đang có sự thay đổi. Suy thoái kinh tế đã khiến người tiêu dùng trở nên tiết kiệm hơn, và hiện có rất nhiều cách để gây ảnh hưởng tới người tiêu dùng thông qua Internet và công nghệ di động.

Theo hãng nghiên cứu eMarketer, thời gian trung bình mà người tiêu dùng Mỹ dành cho truyền thông kỹ thuật số có thể lần đầu tiên vượt thời gian xem truyền hình trong năm nay. Hãng này ước tính, mỗi người trưởng thành bình thường ở Mỹ sẽ dành khoảng 5 giờ mỗi ngày trên mạng thông qua các thiết bị di động hoặc thiết bị khác trong năm nay. Ngược lại, thời gian xem TV của người đó sẽ chỉ còn 4 giờ và 31 phút mỗi ngày.

Dữ liệu từ các công ty nghiên cứu hàng đầu cho thấy, năm ngoái, các công ty sản xuất hàng tiêu dùng đóng gói ở Mỹ chi khoảng 13,4 tỷ USD cho quảng cáo. Trong đó, 22,2% được chi cho quảng cáo trên truyền thông kỹ thuật số. Năm 2011, tỷ lệ này là 19,3%.

Hiện P&G chưa đưa ra con số cụ thể về mức chi quảng cáo trong năm tài khóa vừa kết thúc mới đấy của hãng. Trong tài khóa vừa rồi, doanh thu của P&G vượt 84 tỷ USD.

Trong tài khóa 2012, P&G chi 9,3 tỷ USD cho quảng cáo, bao gồm quảng cáo trên truyền hình, truyền thanh, báo in, Internet, và quảng cáo tại các cửa hiệu. Bắc Mỹ là thị trường đóng góp 1/3 doanh thu của P&G, và cũng là thị trường mà hãng này chi nhiều nhất cho quảng cáo.

CEO Lafley cho biết, chi quảng cáo trên mạng của P&G khác nhau đối với từng sản phẩm. Theo CEO này, đối với một số mảng sản phẩm, “quảng cáo trên truyền thông kỹ thuật số hiệu quả đến mức khó tin, và chúng tôi sẽ sử dụng hình thức này nhiều hơn”. Tã giấy Pampers, lăn khử mùi Secret, và các sản phẩm chăm sóc cá nhân cho nam giới là một vài trong số những sản phẩm mà P&G lấy quảng cáo trực tuyến làm trọng tâm.

Việc P&G tăng cường quảng cáo trực tuyến diễn ra trong lúc loại hình quảng cáo này ngày càng “lấn sân” quảng cáo truyền hình. Chi quảng cáo trên các phương tiện truyền thông kỹ thuật số ở Mỹ năm nay được dự báo tăng 14%, đạt mức 41,9 tỷ USD, trong khi chi cho quảng cáo truyền hình có thể chỉ tăng 3%, đạt mức 66,4 tỷ USD - theo eMarketer.

Các thiết bị di động là đối tượng hưởng lợi lớn nhất trong xu hướng dịch chuyển sự chú ý này của người Mỹ.

Người trưởng thành ở nước này được eMarketer dự báo sẽ dành bình quân 2 giờ 21 phút mỗi ngày trên các thiết bị như điện thoại thông minh và máy tính bảng để làm những việc không phải là gọi điện. Khoảng thời gian này dài hơn thời gian mà họ lên mạng bằng máy tính để bàn và máy tính xách tay, đồng thời tăng gần nửa giờ đồng hồ so với thời gian họ dành cho các thiết bị di động trong năm 2012.   

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

Làm ăn với Trung Quốc: Cảnh giác với những nghịch lý

Cùng với những lo ngại mà Trung Quốc đang gieo rắc trên biển Đông, các nghịch lý trong quan hệ thương mại Việt-Trung đang diễn ra cũng không kém phần âu lo.

 


Theo ông Phạm Gia Túc, Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Phó chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, giai đoạn 2000-2010 chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Trung Quốc với tốc độ trung bình 32%/năm. Mục tiêu kim ngạch thương mại hai chiều được kỳ vọng sẽ đạt mốc 60 tỷ USD vào năm 2015.

Trung Quốc là một thị trường tiềm năng quan trọng, đồng thời là cơ hội cho Việt Nam khai thác ở phương diện xuất khẩu hàng hóa thế mạnh, đồng thời chuyển giao công nghệ, kỹ thuật...

Tuy nhiên, dường như Việt Nam đã có phần dễ dãi khi để Trung Quốc ung dung thực hiện những "chiêu bài thương mại" có tính thặng dư cao.

Nhìn lại toàn bộ bức tranh thương mại Việt-Trung, không ít người giật mình khi Trung Quốc đa phần nằm "kèo trên" trong các quan hệ giao dịch thương mại, đặc biệt là các lĩnh vực nhạy cảm như năng lượng và lương thực.

Từ nghịch lý điện

Sẽ không khỏi bất ngờ khi năm 2012, Việt Nam vẫn tiếp tục nhập khẩu điện từ Trung Quốc với số lượng lớn, bất chấp những nỗ lực sản xuất của các nhà máy điện nội địa. Số liệu thống kê năm 2012 cho thấy, khai thác điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đạt 54,4 tỷ kWh, vượt kế hoạch 3,58 tỷ kWh.

Năm 2012 được đánh giá là năm "thừa điện" nhưng nhập khẩu điện từ Trung Quốc vượt mốc 2,5-2,8 tỷ kWh. EVN còn dự kiến mua khoảng 3,6 tỷ kWh điện từ Trung Quốc trong năm 2013.


Làm ăn với Trung Quốc: Cảnh giác với những nghịch lý 1Chính cơ chế mua bằng hình thức bao tiêu, ký hợp đồng từ đầu năm với Trung Quốc, trong khi lượng cung điện trong nước chưa có dự báo tốt khiến lượng điện nội địa thất thường đã khiến điện Việt Nam "thừa vẫn mua" và chua xót hơn là phải mua điện với giá cao hơn điện tự sản xuất.

Trong khi các nhà máy thủy điện đua nhau mọc lên, sản lượng điện tăng khá mạnh thì điện Trung Quốc vẫn "làm mưa làm gió” ngay tại sân nhà Việt Nam. Đáng lưu ý hơn, EVN mua điện nội địa với mức giá thấp còn điện Trung Quốc bán cho Việt Nam với mức giá cao, có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, năm 2011, giá điện nhập khẩu từ Trung Quốc là 5,8 cent/kWh, tăng lên 6,08 cent/kWh (khoảng 1.300 đồng/kWh) trong năm "thừa điện" 2012.

Trái lại, giá điện nội địa từ các nhà máy thủy điện nhỏ vẫn chỉ ở mức khoảng 800 - 900 đồng/kWh, có khi xuống mức 500 - 600 đồng/kWh. Giá nhiệt điện than có phần nhỉn hơn nhưng cũng chỉ khoảng 1.280 - 1.300 đồng/kWh.

Chính cơ chế mua bằng hình thức bao tiêu, ký hợp đồng từ đầu năm với Trung Quốc, trong khi lượng cung điện trong nước chưa có dự báo tốt khiến lượng điện nội địa thất thường đã khiến điện Việt Nam "thừa vẫn mua" và chua xót hơn là phải mua điện với giá cao hơn điện tự sản xuất.

Đến trớ trêu gạo


Bên cạnh năng lượng điện, mặt hàng nông sản trong quan hệ thương mại Việt-Trung cũng gặp những vấn đề lớn. Báo cáo tổng kết của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, năm 2012, ngành nông nghiệp đã xuất khẩu được 10,6 tỷ USD.

Tuy nhiên, thực trạng "được mùa mất giá” vẫn cứ diễn ra, điển hình như: sắn và sản phẩm sắn tăng 55,2% về lượng nhưng giá lại giảm 16,8%; cà phê tăng 37,9% về lượng, giảm 6,2% về giá; hạt điều tăng 25,6% về lượng, giảm 15% về giá...

Đáng chú ý nhất là xuất khẩu gạo với sản lượng tăng 13,1%, nhưng giá đã giảm xuống 7,1%.

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), trong năm 2012, Trung Quốc nhập khẩu 2,6 triệu tấn gạo, gấp hơn 4,5 lần so với mức nhập khẩu 575.000 tấn hồi năm 2011, vượt xa dự báo của Cơ quan Nông lương Liên hiệp quốc (FAO).


Thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc tăng từ 9 tỷ USD năm 2007 lên 16,4 tỷ USD vào năm 2012.
Việt Nam và Trung Quốc đề ra chỉ tiêu tăng trao đổi thương mại hai chiều từ 41 tỷ USD trong năm 2012 lên 60 tỷ USD trong năm 2015.
Giữa tháng 12/2012, trong khi giá gạo Việt Nam xuất khẩu chỉ ở mức 410 USD/tấn, thì cùng loại gạo đó, Chính phủ Trung Quốc mua trợ giá từ người dân nước họ với mức giá lên đến 635 USD/tấn.
Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn

Trong đó, Trung Quốc vượt Indonesia, trở thành đối tác nhập khẩu gạo số 1 của Việt Nam với 1,43 triệu tấn (chỉ tính riêng 10 tháng đầu năm 2012).

Nghịch lý diễn ra không chỉ ở việc Trung Quốc nhập khẩu gạo tăng đột biến trong khi nước này đứng đầu thế giới về sản xuất gạo, mà còn ở chỗ người dân Trung Quốc bán gạo cho chính phủ nước này "cất vào kho" với giá cao, còn mua gạo Việt với giá rẻ hơn nhiều để sử dụng.

Trớ trêu là gạo "chảy máu" sang Trung Quốc càng nhiều thì thặng dự từ hạt gạo mà người nông dân mất đi lại chảy vào túi người Trung Quốc càng lớn.

Ai cũng biết, năng lượng và lương thực là hai trong số những lĩnh vực quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến các yếu tố chính trị, an ninh, xã hội và sự sự phát triển bền vững của đất nước.

Thế nên, hạn chế sự phụ thuộc và "chảy máu" nguồn lực thiết yếu mà điển hình là năng lượng và lương thực, sẽ là cách tự vệ hiệu quả của thương mại Việt Nam trước Trung Quốc nhiều toan tính.

(Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn)

Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

Kiếm vài ngàn đô mỗi tháng nhờ quảng cáo trên các ứng dụng mobile

Trường (23 tuổi) tốt nghiệp Đại học Công nghệ được một năm, tác giả của hơn 20 ứng dụng điện thoại, trung bình mỗi tháng thu được gần 3.000 USD từ tiền quảng cáo ăn theo các sản phẩm này.
 
Thị trường smartphone bùng nổ cũng là cơ hội cho dân công nghệ thông tin (IT) tăng thu nhập với các dịch vụ ăn theo. Trên các chợ ứng dụng mobile lớn như Google Play, Appstore… có nhiều chương trình free (miễn phí) gồm cả game, phần mềm, nhưng chủ nhân của chúng vẫn kiếm được tiền nhờ đặt quảng cáo của những nhà cung cấp dịch vụ khác như Google AdMob, Airpush, StartApp... Tiền thu về tính trên số lần click của người dùng vào các quảng cáo hoặc số lượt tải ứng dụng.
 
Nguyễn Xuân Trường (23 tuổi), tốt nghiệp Đại học Công nghệ, Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2012. Bắt đầu công việc viết phần mềm cách đây 2 năm, khi còn là sinh viên, đến nay, Trường đã cho ra lò hơn 20 sản phẩm. 
abc-1374134261_500x0.jpg
Nghề lập trình mobile giúp nhiều lập trình viên kiếm vài nghìn USD mỗi tháng. Ảnh: Techz.com
Sau khi tung những ứng dụng này lên Appstore, Playstore... các lập trình viên như Trường tiếp tục mày mò để tìm đối tác, mời họ đặt quảng cáo. Mỗi đơn vị quảng cáo sẽ có những cách tính tiền khác nhau để trả cho các lập trình viên. Đối với dịch vụ StartApp, số tiền trả được tính theo lượt tải nội dung được quảng cáo. Còn Google AdMod thì chỉ cần người sử dụng ứng dụng click vào quảng cáo là lập trình viên được trả tiền… Có khá nhiều lựa chọn dịch vụ cho lập trình viên để đưa vào ứng dụng của mình một cách phù hợp nhất. 
 
"Những ứng dụng tốt, được ưa chuộng thì việc mời quảng cáo không gặp nhiều khó khăn", anh chia sẻ. Mỗi lượt click hoặc tải quảng cáo đó, Trường được hưởng 0,01 USD. Nhờ các ứng dụng này, mỗi tháng trung bình anh thu được 2.500-3.000 USD. 
 
Đặng Văn Giỏi (23 tuổi) cũng vừa tốt nghiệp Đại học Hòa Bình năm 2012. Bắt tay vào công việc lập trình ứng dụng cho mobile từ tháng 2/2012, đến nay anh có khoảng 23 app thành công. Nhờ đó, thu nhập trung bình của Giỏi mỗi tháng khoảng 1.500 USD.
 
Theo các lập trình viên, các đơn vị đặt quảng cáo thường ở nước ngoài, thanh toán qua tài khoản ngân hàng. "Việc thanh toán hàng tháng hoặc theo chu kỳ như thế nào là do thỏa thuận giữa mình và đơn vị đặt quảng cáo. Hiện nay giá trung bình cho lập trình viên Việt Nam là 0,01USD, nếu ứng dụng tốt, có thể được trả mức cao hơn", Giỏi chia sẻ.
 
Ở Việt Nam, nghề lập trình ứng dụng cho mobile manh nha vài năm trước nhưng thực sự rộ lên khoảng 2 năm nay. Chủ yếu các lập trình viên tự làm rồi mời quảng cáo, lượng doanh nghiệp tham gia còn hạn chế. 
 
Các lập trình viên cho biết kiếm tiền qua các dịch vụ này cũng không ít gian nan. Trường cho biết, để có ý tưởng viết một ứng dụng và hoàn thành nó phải mất khá nhiều thời gian, công sức. "Một số công trình mình làm liên tục phải mất 2-3 tháng mới xong. Những ứng dụng đơn giản hơn thì khoảng 1-2 tuần. Tuy nhiên, không phải ứng dụng nào cũng hút khách để mời chào quảng cáo", lập trình viên này cho hay. 
 
Hiện số lập trình viên tham gia ngày một lớn, nên theo Trường, tính cạnh tranh cao hơn. "Một ứng dụng đưa ra phải tốt, thiết thực thì mới được ưa chuộng và hút được nhiều quảng cáo. Bên cạnh đó, phải không ngừng xây dựng ý tưởng để cho ra đời những ứng dụng mới", Trường chia sẻ.
 
Còn Giỏi thì cho rằng, một trong những khó khăn nhất của công việc này hiện nay là người làm gần như phải tự mày mò qua các tài liệu bằng tiếng Anh trên mạng. Những tài liệu tiếng Việt hiện nay không có, chủ yếu chỉ là những kinh nghiệm của dân trong ngành chia sẻ với nhau.  "Ngoại ngữ của mình hồi đầu không tốt nên khá vất vả", Giỏi nói.
 
Sự cạnh tranh ngày một lớn nên quảng cáo như thế nào để hút người dùng cũng khiến các lập trình viên phải "đau đầu". Thành viên có nickname codemaster -  lập trình viên mobile cũng chia sẻ trên một diễn đàn: “Mình cũng thử làm một vài ứng dụng free trên Google Play và kiếm tiền nhờ quảng cáo. Tuy nhiên tháng đầu có ít người tải ứng dụng, chỉ được gần 20 USD nên nản lắm”.
 
Tuy nhiên, rút kinh nghiệm từ các đàn anh, thành viên này bắt đầu quảng cáo trên các trang mạng xã hội, cải tiến chức năng của ứng dụng, nên hiện tại, lượt tải đã tăng lên gấp nhiều lần. “Theo mình, một trong những bí kíp để thu được lợi nhuận nhiều từ dịch vụ này là ứng dụng phải có sức hút với người dùng và biết cách quảng cáo nữa”, thành viên này chia sẻ.
 
Ngọc Minh - Bùi Nhung

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

Kinh nghiệm của Buffett: hãy lắng nghe phản biện khi đang thành công

Điều quan trọng nhất bạn có thể làm khi các khoản đầu tư của bạn đang “xuôi chèo mát mái” là lắng nghe ai đó nói rằng bạn đã sai.

Ông Warren Buffett, Chủ tịch Tập đoàn Berkshire Hathaway, tại Đại hội cổ đông năm nay của Tập đoàn.

Ông Warren Buffett, Chủ tịch Tập đoàn Berkshire Hathaway, tại Đại hội cổ đông năm nay của Tập đoàn.

Không có thông tin gì to tát tại đại hội cổ đông của Berkshire Hathaway diễn ra vào ngày 4.5, nhưng có một bài học lớn dành cho các nhà đầu tư: Có lẽ điều quan trọng nhất bạn có thể làm khi các khoản đầu tư của bạn đang “xuôi chèo mát mái” là lắng nghe ai đó nói rằng bạn đã sai.
Để thêm gia vị cho đại hội cổ đông năm nay, nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett, Chủ tịch Tập đoàn Berkshire Hathaway, đã mời một người đã đặt cược cổ phiếu của Berkshire sẽ đi xuống để tham gia nhóm các nhà phân tích đặt câu hỏi chất vấn cho Buffett và Phó Chủ tịch Charles Munger. Người được mời là chuyên gia bán khống Doug Kass, 64 tuổi, đến từ quỹ đầu cơ Seabreeze Partners Management. Năm 2008, Kass đã nổi tiếng khi ông viết một bài báo liệt kê cả 11 lý do vì sao nên bán khống cổ phiếu Berkshire.
Theo khảo sát do Viện Quan hệ Nhà đầu tư Quốc gia thực hiện vào năm 2011, có tới 80% công ty đưa ra giới hạn về số người có thể được đặt câu hỏi trong cuộc họp báo cáo kết quả kinh doanh. Gần 25% công ty chỉ nhận câu hỏi đặt ra từ một nhóm người họ đã đồng ý trước đó. Chỉ 11% cho phép các nhà đầu tư cá nhân chất vấn. Và chỉ 12% cho phép bất cứ ai cũng được đặt câu hỏi. Một phát hiện đáng chú ý là 76% công ty đã chuẩn bị sẵn câu trả lời theo kịch bản cho những câu hỏi họ dự kiến sẽ bị hoặc được hỏi.
Những điều này cho thấy sự đặc biệt trong cách nghĩ của Buffett. Đó là một trong những lý do làm nên thành công của ông. “Buffett rất tự tin, ông không sợ một thách thức nào. Nói đúng hơn là ông ấy rất hứng thú mỗi khi xuất hiện thách thức mới”, Kass nhận xét.
Buffett từng nói về nhà khoa học Charles Darwin, cha đẻ của học thuyết tiến hóa, rằng: “Mỗi khi gặp một ý tưởng mâu thuẫn với kết luận ông đã rút ra, Darwin liền viết phát hiện mới đó ra trong vòng 30 phút. Nếu không, bộ não của ông sẽ tự động đưa ra các lý lẽ bài xích thông tin phản bác này, giống như cơ thể tự động đào thải những vật lạ được cấy ghép vào mình”. Buffett nói thêm:“Tâm lý tự nhiên của con người là luôn bám giữ lấy niềm tin của mình, nhất là khi niềm tin đó đã được củng cố, chứng minh bởi những trải nghiệm”.
Đó là lý do Buffett phải luôn tìm người đưa ra ý kiến trái chiều với ông.
Một nhà đầu tư gạo cội khác trong giới tài chính cũng rất xem trọng nguyên tắc “cần thách thức quan điểm đầu tư của bản thân”. Đó là Ray Dalio, nhà sáng lập Bridgewater Associates, quỹ đầu cơ lớn nhất thế giới.
“Khi cả 2 bên đều bất đồng, đó là khi quá trình học hỏi và tiến lên phía trước bắt đầu diễn ra. Điều quan trọng nhất một nhà đầu tư có thể làm để trở nên hiệu quả hơn là tìm một người mình kính trọng, người có quan điểm hoàn toàn trái ngược với mình và có tinh thần trao đổi, tranh luận cởi mở”, ông nói thêm.
Nguyên tắc này được ông Dalio gọi là “sự bất đồng có suy nghĩ”. Ông cho rằng nguyên tắc đó vào lúc này càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Vì các thị trường đều đang lên các mức cao kỷ lục. Khi giá cả liên tục tăng cao, khó tránh được việc người ta trở nên tự mãn và chủ quan. “Khi nghĩ mình đúng, bộ não của bạn sẽ không muốn học hỏi. Càng nghĩ rằng bạn biết nhiều, bộ não sẽ càng khép lại, càng không muốn tiếp thu ý tưởng mới”, ông nói.
Chỉ khi nào chủ động tìm kiếm “sự bất đồng có suy nghĩ”, nhà đầu tư mới có thể phản biện những niềm tin được tạo ra bởi một thị trường giá lên. Theo ông, các nhà đầu tư có thể nâng cao được xác suất đúng của họ thêm 30-40%, đơn giản chỉ bằng việc thảo luận một cách cởi mở với những người bất đồng ý kiến. Hiểu được các lý lẽ vì sao bất đồng sẽ giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn. “Có một thực tế: nhiều nhà đầu tư mắc phải sai lầm là cứ nhìn vào giá mà không nhận ra giá chẳng có ý nghĩa gì cả”, ông nói.
Một cách để áp dụng nguyên tắc “bất đồng có suy nghĩ” vào quy trình ra quyết định, theo bà Mariko Gordon, Tổng Giám đốc Daruma Capital Management tại New York, là có thể giả vờ như mình là một người hoàn toàn khác. “Hãy tự hỏi mình: nếu tôi là nhà bán khống thông minh nhất thế giới, khoản đầu tư nào tôi sẽ tìm đến? Nếu tôi là người chỉ muốn mua các cổ phiếu tăng giá nhanh, vậy có cổ phiếu nào như thế cho tôi? Bằng cách đó, bạn có thể buộc mình phải nhìn vấn đề ở nhiều góc độ, phương diện khác nhau”, bà nói.
Mike Ervolini, Tổng Giám đốc hãng tư vấn Cabot Research, lại đo lường bao lâu thì một khoản đầu tư tốt không còn hiệu quả nữa. Công ty ông nhận thấy nhà đầu tư có xu hướng tiếp tục nắm giữ một cổ phiếu đang chiến thắng trên thị trường, thậm chí sau khi phong độ của nó bắt đầu đi xuống.
Ông cho rằng cần phải nghiên cứu lịch sử đầu tư của chính mình để biết một khoản đầu tư trung bình sẽ tạo ra kết quả vượt trội trong bao lâu. Qua khoảng thời gian này là dấu hiệu cần phải xem lại khoản đầu tư đó.
Phải sẵn sàng chấp nhận những lời phản bác, đặt dấu hỏi ngay cả khi mình có niềm tin mạnh nhất. Khi thị trường giá lên chấm dứt và mọi thứ bắt đầu đi xuống, bạn sẽ tạ ơn trời là mình đã làm điều đó. Hãy nhìn Warren Buffett: ông luôn tìm người bảo rằng ông đã sai.
 
Theo Nhịp cầu đầu tư/WSJ