Thứ Hai, 25 tháng 6, 2012

Nông dân Việt nam vẫn bị thương lái Trung Quốc lừa với mánh cũ

Chỉ trong vòng nửa năm đầu 2012, đã không ít lần doanh nghiệp và người nông dân Việt Nam phải “nếm trái đắng” khi buôn bán với thương nhân Trung Quốc.
Thua lỗ trước mắt

Đầu tiên là vấn đề xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc – đối tác nông sản hàng đầu của Việt Nam. Chỉ trong vòng hơn một tháng vừa qua, mà đã có tới bốn sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam “dính đòn” khiến giá giảm thê thảm là khoai lang, dứa, gạo và dừa. Các sự việc xảy ta đều theo một mô – típ chung là thao túng – mua một phần – ngừng mua – mua lại và ép giá.

Ban đầu, các thương nhân Trung Quốc thu mua ồ ạt, họ đặt trạm gom hàng nông sản khiến nhu cầu tăng đột biến, giá nông sản tăng nhanh. Các doanh nghiệp trong nước không cạnh tranh được và đành chịu thiếu nguyên liệu sản xuất. Sau khi đã thao túng được thị trường và nhận một phần sản phẩm, tất cả thương nhân Trung Quốc bắt đầu hạn chế và dừng mua đột ngột khiến giá giảm nhanh chóng. Đến khi giá giảm rất thấp thì họ bắt đầu quay trở lại ép giá thấp hơn nữa và bắt đầu thu mua.

Họ tự đặt ra các tiêu chuẩn “kì lạ” để có lý do ép giá nhiều hơn (ví dụ khoai lang củ to không mua, bắt phải giảm giá). Và điều éo le nhất đó là người nông dân Việt Nam gần như không có cách nào để kháng cự lại, nếu càng cố giữ hàng chờ giá lên, thì lại càng bị ép giá nặng.



Như trường hợp khoai lang tím, sau khi giá giảm chỉ còn 300,000 đồng/tạ, nông dân đã chủ động kéo dài thời gian thu hoạch, khoai lớn củ hơn nhưng giá lại bị ép xuống còn 250,000 đồng/tạ. Chỉ với một thủ đoạn lặp đi lặp lại, các thương nhân Trung Quốc đã có thể ép giá dứa giảm hơn một nửa, khoai lang tím giảm tới 70%, và giá dừa thậm chí giảm đến 90%, còn gạo thì đang giảm giá liên tục và vẫn loay hoay tìm kiếm thị trường thay thế.


Nhờ thao túng được thị trường, thương nhân Trung Quốc có thể thoải mái lưa chọn các sản phẩm tốt nhất với giá thấp nhất. Trong bối cảnh an ninh lương thực đang bất ổn do mất mùa và giảm sút các nguồn dự trữ toàn cầu khiến giá lương thực có thể tăng từ 10% - 20% thì việc nông dân Việt Nam phải chịu lỗ nặng khi buôn bán nông sản và lương thực với Trung Quốc là hoàn toàn vô lý.

Đó là các thiệt hại trực tiếp cho nông dân, còn đối với các doanh nghiệp cần hàng sản xuất thì thiệt hại lại đau đớn hơn nhiều khi nguồn cung nguyên liệu của thị trường rất lớn nhưng họ lại không thể mua được và phải sản xuất dưới công suất do không thể cạnh tranh thu mua với thương lái Trung Quốc.

Trong lúc doanh nghiệp rất cần nguyên liệu sản xuất thì các trạm thu gom nông sản của Trung Quốc lại hút hết nguồn hàng với giá cao hơn nhiều, doanh nghiệp Việt Nam lại không thể tăng giá thu mua đầu vào do giá xuất khẩu không tăng, vì vậy đành phải sản xuất dưới công suất của nhà máy. Nhưng khi giá giảm và thương lái Trung Quốc quay trở lại thì doanh nghiệp cũng không thể tiếp tục mua do đã có đủ nguyên liệu và sản xuất đủ thành phẩm đầu ra, nếu mua vào thêm cũng không thể kiếm được người mua và hàng hóa sẽ ứ đọng.

Sụp đổ sản xuất trong tương lai

Nhưng nguy hiểm hơn, việc người dân tự sản xuất thạch dừa hàng loạt, không theo quy trình đảm bảo chất lượng sẽ khiến cho uy tín của mặt hàng thạch dừa Bến Tre bị ảnh hưởng nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp sản xuất thạch dừa và cả ngành xuất khẩu Thạch Dừa Việt Nam. Nhưng sâu xa hơn, việc thương lái Trung Quốc ép giá thê thảm với dừa có thể khiến người dân phải bỏ trồng dừa, lúc này, ngành sản xuất thạch dừa của tỉnh sẽ khó có thể phục hồi được.

Hơn nữa, thương nhân Trung Quốc hiện bao tiêu đến 90% thạch dừa trong tỉnh nên họ toàn quyền quyết định giá cả, sản lượng và thậm chí là chất lượng, nếu họ bỏ đi, cả ngành xuất khẩu sẽ sụp đổ do không tìm được thị trường thay thế.



Còn đối với gạo, không chỉ ép giá thông thường, thương nhân Trung Quốc còn yêu cầu người nông dân trộn gạo trắng với gạo thơm để họ có thể gian lận, tăng lợi nhuận. Việc làm này chỉ mang lại một chút lợi nhuận, nhưng lại gây ra thiệt hại rất lớn cho uy tín gạo xuất khẩu của Việt Nam.


Đây không phải là năm đầu tiên các sản phẩm của Việt Nam “dính đòn” hàng loạt, mà mấy năm trước thương nhân Trung Quốc vẫn tận dụng những cách này để thu lợi cho họ, trong khi gây ra thiệt hại rất lớn cho ta, vậy tại sao Việt Nam vẫn “dính đòn”?.

Nguyên nhân đầu tiên là do sự gần gũi về địa lý và truyền thống buôn bán lâu đời đã giúp buôn bán tiểu ngạch giữa hai nước phát triển. Hình thức này rất thuận tiện cho cả hai bên nhưng do Việt Nam không thể quản lý và kiểm soát tốt hoạt động của thương nhân Trung Quốc nên mới dẫn đến việc thương nhân Trung Quốc có thể thoải mái thao túng và ép giá thị trường nông sản của ta.

Nhưng nguyên nhân khách quan không quyết định tất cả khi lỗi lớn nhất lại thuộc về chính những doanh nghiệp và nông dân Việt Nam đã ham cái lợi trước mắt, chạy theo các nhu cầu ảo mà thương nhân Trung Quốc tạo ra, khiến cho tình hình càng thêm bất ổn.

Như trước đây, khi các cơ quan đứng ra môi giới cho doanh nghiệp Việt Nam mua hàng của nông dân với giá ổn định thì khi thấy giá tăng, nông dân sẵn sàng phá hợp đồng với doanh nghiệp, bán cho thương nhân Trung Quốc. Thậm chí khi thấy thu mua ồ ạt, nông dân sẵn sàng bỏ cả trồng lúa, trồng rau đổ xô đi trồng khoai, làm thạch dừa,… Không chỉ dừng lại ở đó, các doanh nghiệp và người nông dân còn sẵn sàng tiếp tay cho phía Trung Quốc gian lận để đổi lấy một chút lợi ích, không biết rằng chính họ đang phá đi uy tín của cả ngành sản xuất, ảnh hưởng tới lợi ích lâu dài của nhiều người khác.

Vấn đề tiếp theo cần nói tới là quy mô sản xuất gạo và các sản phẩm nông nghiệp khác của chúng ta còn theo hướng manh mún, nhỏ lẻ. Người nông dân không đủ vốn thường phải mượn ngân hàng và chỉ muốn sớm bán được nông sản. Nên dù bị ép giá vẫn phải bán gấp để thu hồi vốn trả nợ cho ngân hàng và tái sản xuất, chưa kể là người nông dân không liên kết được với nhau nên bị thao túng hoàn toàn và gần như không có cách nào để giải quyết.

Nguyên nhân cuối cùng cần nhắc tới là liên kết giữa các cơ quan, ban ngành và người nông dân, doanh nghiệp còn yếu nên chúng ta không thể phối hợp hoạt động hiệu quả để chống lại sự thao túng thị trường của phía Trung Quốc. Nông dân và doanh nghiệp không được thông tin chính xác và kịp thời nên càng loay hoay, lo sợ khi bị thao túng. Càng cố bán gấp càng khiến giá giảm nhanh và càng dễ bị thương nhân Trung Quốc ép giá. Liên kết yếu cũng khiến cho các cơ quan, ban ngành không thể kiểm soát được chất lượng của hàng sản xuất trong nước và khó khăn trong tìm kiếm thị trường mới. Khi không thể tìm ra các nguồn mua thay thế khác, cũng không thể liên kết giữ hàng chờ giá tăng thì việc bị thao túng là điều dễ hiểu.

Thành Công - Mỹ Vân

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Các chiêu thức rửa tiền

Hầu hết các âm mưu rửa tiền đã được phát hiện cho chúng ta thấy bọn tội phạm thường kết hợp nhiều phương pháp với nhau, sao cho càng phức tạp càng tốt để qua mặt nhà chức trách.

Bọn tội phạm rửa tiền có trong tay nhiều công cụ đa dạng, khiến nhà chức trách khó ngăn chặn được, nhưng dù sao họ cũng đã phanh phui được nhiều vụ án, đưa ra ánh sáng một số bí mật.

Tiền gửi tí hon: phương pháp này đòi hỏi phải chia số tiền lớn thành những khoản nhỏ thấp hơn hạn mức ngân hàng phải báo cáo giao dịch với nhà chức trách, nhằm giảm thiểu nghi ngờ. Số tiền này sau đó được gửi dần vào một hoặc nhiều tài khoản ngân hàng, việc gởi tiền do nhiều người thực hiện hoặc do một người duy nhất thực hiện trong khoảng thời gian dài.

Các ngân hàng nước ngoài: kẻ rửa tiền thường gửi tiền thông qua các tài khoản nước ngoài khác nhau ở các nước có luật bảo mật ngân hàng, tức cho phép giao dịch ngân hàng ẩn danh. Âm mưu phức tạp có thể liên quan đến hàng trăm giao dịch chuyển khoản ngân hàng đến/đi từ các ngân hàng nước ngoài. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), các “thiên đường bảo mật" bao gồm Bahamas, Bahrain, quần đảo Cayman, Hồng Công, Antilles, Panama và Singapore.

Ngân hàng ngầm: Một số nước ở châu Á tồn tại hệ thống ngân hàng ngầm chấp nhận gửi tiền, rút tiền và chuyển tiền không có giấy tờ. Đây là những hệ thống dựa trên sự tin tưởng, thường có nguồn gốc cổ xưa, không để lại dấu vết giấy tờ và hoạt động ngoài vòng kiểm soát của chính phủ. Đáng chú ý có hệ thống hawala tại Pakistan và Ấn Độ, hệ thống fie chen ở Trung Quốc.

Công ty vỏ bọc: Đây là những công ty giả tạo mà sự tồn tại không có lý do nào khác hơn ngoài rửa tiền. Các công ty này thâu vào tiền bẩn dưới danh nghĩa "thanh toán" cho các món hàng hóa, dịch vụ mà thực ra họ chẳng bao giờ cung cấp. Nhiệm vụ của chúng là nhào nặn ra các giao dịch hợp pháp thông qua các hóa đơn và bảng cân đối khống.

Đầu tư vào các doanh nghiệp hợp pháp: Đôi khi tội phạm đầu tư vào các doanh nghiệp hợp pháp nhằm rửa sạch tiền bẩn. Chúng có thể nhắm đến các doanh nghiệp lớn như công ty môi giới hoặc các casino - những nơi có lượng tiền lưu thông lớn, dễ trà trộn tiền bẩn, hoặc cũng có thể lợi dụng những doanh nghiệp nhỏ, chủ yếu dùng tiền mặt như quán bar, tiệm rửa xe, câu lạc bộ múa thoát y… Những doanh nghiệp này được gọi là “công ty bình phong”, tuy có cung cấp hàng hóa, dịch vụ hẳn hoi nhưng mục đích thực sự là để làm sạch tiền bẩn.
Phương pháp này thường được tiến hành theo một trong 2 cách: Cách thứ nhất đơn giản là kẻ rửa tiền gởi tiền bẩn vào tài khoản ngân hàng hợp pháp của công ty với hy vọng rằng nhà chức trách sẽ không so sánh bản cân đối ngân hàng với báo cáo tài chính của công ty. Cách thứ hai cần thêm chút khéo léo để chèn tiền bẩn vào doanh thu sạch của công ty và công ty sẽ báo cáo gộp chung thành doanh thu hợp pháp.

Thị trường đen giao dịch đồng peso Colombia: hệ thống này được gọi là "cơ chế rửa tiền ma túy lớn nhất Tây bán cầu”, bị phát hiện vào những năm 1990. Lúc đó, quan chức Colombia làm việc với người của Bộ Tài chính Hoa Kỳ về việc hàng hóa Hoa Kỳ nhập khẩu trái phép vào Colombia thông qua thị trường chợ đen. Khi xem xét vấn đề này cùng với vấn đề rửa tiền ma túy, các quan chức đã đối chiếu và phát hiện ra rằng cơ chế thông đồng đã được sử dụng ở cả 2 phía.
Sự thiết lập phức tạp dựa trên thực tế là các doanh nhân Colombia - thường là nhà nhập khẩu hàng hóa quốc tế - cần USD để tiến hành công việc kinh doanh. Để tránh bị chính phủ đánh thuế chuyển đổi từ peso sang USD và thuế hàng hóa nhập khẩu, họ tìm tới những tay "môi giới peso" trên thị trường chợ đen, những kẻ tính phí rẻ hơn, đấy là bên cần nhập khẩu bất hợp pháp.
Còn bên rửa tiền thực hiện quy trình: Kẻ buôn ma túy chuyển lậu tiền USD bẩn cho tay môi giới peso ở Colombia. Tay môi giới peso sau đó sử dụng tiền ma túy để mua hàng hóa tại Hoa Kỳ cho các nhà nhập khẩu Colombia. Khi các nhà nhập khẩu nhận được hàng hóa (ngoài tầm kiểm soát của chính phủ) đem bán ở Colombia, thu về đồng peso và chi trả cho tay môi giới. Tay môi giới peso sau đó chuyển cho kẻ buôn ma túy số tiền peso tương đương với số tiền USD bẩn ban đầu (dĩ nhiên là có giữ lại một khoản hoa hồng).

Trong nhiều thập niên qua, đồng USD là loại tiền tệ được những kẻ rửa tiền sử dụng phổ biến nhất. Sự phổ biến này do USD được chấp nhận rộng rãi và khối lượng các giao dịch sử dụng đồng USD trên toàn thế giới vô cùng lớn nên thêm một vài triệu USD sang tay cũng không mấy thu hút sự chú ý.

Tuy nhiên, kể từ khi xuất hiện và sau đó được sử dụng đại trà vào năm 2002, đồng EUR đã dần dần len lỏi trong ngành công nghiệp rửa tiền. Đối với bọn tội phạm rửa tiền, EUR có thể là đồng tiền hoàn hảo vì EUR là đồng tiền chính thức của gần 20 quốc gia nên khối lượng luân chuyển cực lớn và dễ lưu thông xuyên biên giới mà không gây chú ý.

Theo SGDTTC

Bán mình lấy vốn kinh doanh

Tầm nhìn người đứng đầu doanh nghiệp có tác động rất lớn tới quyết định cấp vốn của ngân hàng hay quỹ đầu tư. Do đó, lời khuyên dành cho các doanh nhân là phải biết biến mình thành món hàng tốt để "bán" được giá.
Sau 10 năm làm thuê, thành lập công ty năm 1998 với số vốn 200 triệu đồng và nay có 38 công ty thành viên, tổng trị giá lên đến 3.000 tỷ đồng là câu chuyện thành công của ông Mai Hữu Tín - Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn đầu tư U&I, Chủ tịch Hội doanh nhân trẻ Việt Nam. Kinh nghiệm được ông Tín tiết lộ là: "Trong kinh doanh, ai đó chỉ đầu tư cho bạn khi họ thấy hợp. Không hợp thì không thể hùn –góp chung, chẳng thế mà ông cha ta từ xưa đã có từ 'hùn hợp'".

Chủ tịch Tập đoàn U&I phân tích, việc đầu tư vào một doanh nghiệp nào đó chủ yếu dựa trên 3 lý do: sở thích, mua lại, phát triển rồi bán hoặc bị rủ rê. Tuy nhiên, dù với nguyên nhân nào, người rót vốn cũng cần nhìn thấy điểm chung với lãnh đạo của nơi sử dụng nguồn tiền đó. "Doanh nhân hãy là chính mình nhưng phải biết tiếp thị là một món hàng tốt để 'bán' có giá hay chính là thu hút được đầu tư" – ông Tín nói.

Ông Mai Hữu Tín - Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn đầu tư U&I. Ảnh: ST

Câu chuyện trên được ông Tín chia sẻ cùng 100 CEO trong buổi giao lưu hôm qua tại Hà Nội với chủ đề “Phương thức vay và huy động vốn hiệu quả”.

Đồng quan điểm này, ông Nguyễn Hồng Trường, Phó chủ tịch phụ trách kinh doanh và công nghệ IDG Ventures Việt Nam cho rằng, thu hút đầu tư thành công hay không trước hết dựa vào người đứng đầu doanh nghiệp. Đó là tầm nhìn, mục tiêu, khả năng ảnh hưởng của vị lãnh đạo và đặc biệt là sự hiểu biết nhà đầu tư, kế sau mới là sản phẩm hay kế hoạch kinh doanh.

"Đôi khi chỉ là những cuộc nói chuyện 5 phút, bài test 30 giây, qua con người, chúng ta sẽ quyết định đầu tư hay không. Nếu doanh nhân đó chứng minh được tầm nhìn, khả năng và biết chắc họ làm cái gì thì bằng bất cứ bản kế hoạch nào, họ cũng đã tìm được con đường ngắn nhất", ông Trường nói.

Tuy nhiên, về kinh nghiệm hút vốn từ các quỹ đầu tư chiến lược, ông Nguyễn Hồng Trường cho biết, doanh nghiệp thường chỉ tìm đến khi khởi nghiệp hoặc mở rộng quy mô kinh doanh. Điều này cũng chỉ nên thực hiện sau cuộc huy động 3F – Family, Friends, Fools – gia đình, bạn bè và nhà đầu tư thiên thần. Bởi khi đã có sự vào cuộc của các quỹ đầu tư, doanh nghiệp ít nhiều bị "pha loãng" từ việc bán cổ phần, cổ phiếu.

Theo chuyên gia tài chính, ngân hàng – Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, điểm khó nhất của doanh nghiệp khi đi vay vốn hiện nay là tài sản thế chấp. Nhưng trường hợp không có, doanh nhân đổi lại bằng một bản kế hoạch, báo cáo, dự báo tình hình cụ thể trong 3-5 năm thì vấn đề cho vay sẽ được xem xét.

Bởi ngân hàng và người đi vay cần tìm được tiếng nói chung, nếu khả thi, ngân hàng có thể lấy chính sản phẩm hình thành từ vốn vay làm tài sản thế chấp. Theo đó, một bản dự báo chi tiết là cần thiết, tầm nhìn, khả năng của doanh nhân là mấu chốt trong việc hút đầu tư.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu đưa ra một thực tế nghịch lý hiện nay: ngân hàng có thừa vốn nhưng không cho doanh nghiệp vay. Thay vào đó, họ đi mua trái phiếu Chính phủ và cho nhau vay, dù lỗ 3-5% so với đầu tư vào các công ty kinh doanh. "Tại sao lại như vậy? Có vấn đề gì đang xảy ra ở đây?" – ông đặt câu hỏi.

Theo ông Hiếu, tình trạng nợ xấu đã khiến hầu hết ngân hàng "co càng" và không đơn vị nào muốn mạo hiểm nữa. Một nợ xấu phải đổi lại bằng 50 nợ mới, bởi thông thường, biên độ lợi nhuận của ngân hàng chỉ là 2%.

"Vậy thì doanh nghiệp hay chính là người đi vay phải chứng mình được với các ngân hàng khả năng thanh khoản, bảo đảm của mình. Hai bên hiểu và cùng chung ngôn ngữ mới khơi thông được nguồn tiền", ông Hiếu nói.

Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu cũng "mách nước" cách tiếp cận ngân hàng với các doanh nghiệp. Ngoài tài sản thế chấp đang có và hình thành từ nguồn vốn, đơn vị đi vay phải chuẩn bị báo cáo, dự báo tài chính, kế hoạch kinh doanh...

Thêm đó, doanh nghiệp đi vay cần nắm và giữ cho được tâm lý đàm phán. Đơn cử như thông thường, ngân hàng sẽ hỏi người đi vay "Anh đã tiếp cận ngân hàng nào trước chúng tôi?" và doanh nhân trả lời "Không, các ông là đầu tiên". Nhưng thực tế, đó là sai lầm.

"Đừng ngần ngại thể hiện sức mạnh và cho họ biết tôi đã làm việc với nhiều ngân hàng nhưng muốn xem ngân hàng của ông có lợi thế hơn họ hay không", chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu tư vấn. Ngoài ra, trong bất kể trường hợp nào, người đi vay cũng không được vượt quá "điểm tổn thương", tức là bằng mọi giá để vay được vốn, "nếu thấy khó chấp nhận, hãy sẵn sàng rời bàn đàm phán và luôn giữ vị thế chủ động", ông nói.

Một kinh nghiệm được chuyên gia này tiết lộ, dù "khỏe" đến mấy, doanh nghiệp cũng nên giữ quan hệ với ngân hàng. Tức là dù không cần cũng hãy vay một ít để "họ vui lòng" và được "cấp cứu" khi không may khó khăn. Bởi ngân hàng được xem là một sinh vật, chỉ đưa dù cho doanh nghiệp khi "nắng" chứ không đưa dù khi "trời mưa".

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, năm 2011, cả nước có 79.000 doanh nghiệp phá sản. Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, 4 tháng đầu năm, con số này là 17.000 doanh nghiệp. Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu cho rằng điều này có một phần nguyên nhân lớn do lãi suất cho vay từ các ngân hàng quá cao, thậm chí không ít công ty làm chỉ để trả lãi. Thông thường, với lãi suất 20%, doanh nghiệp phải có lợi nhuận 40% mới "sống" được.
Bản thân nhiều ngân hàng cũng đang chịu "gậy ông đập lưng ông" vì cuộc chạy đua huy động lãi suất, đẩy mức cho vay lên quá cao. Bởi chính việc đẩy doanh nghiệp vào khó khăn, không có khả năng thanh khoản đã tạo nên "cục máu đông" nợ xấu hiện nay.

Xuân Ngọc

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Các doanh nhân điển hình làm giàu từ tay trắng

CEO Wal-Mart từng đi bán báo và vắt sữa bò thuê trước khi trở thành người sáng lập chuỗi bán lẻ lớn nhất thế giới trong khi tỷ phú Abramovich quyết định bỏ học để đi bán hàng.  
 

    1. Sam Walton – Sáng lập Wal-Mart

     

    Trước khi sáng lập tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới, Sam Walton từng đi bán báo và vắt sữa bò thuê để kiếm thêm tiền phụ giúp bố mẹ. Gia đình ông sống trong điền trang tại Oklahoma vào giai đoạn suy thoái những năm 1930.

    Năm 26 tuổi, sau khi tốt nghiệp đại học Missouri với bằng cử nhân kinh tế, Sam đã dùng 5.000 USD tiền lương tiết kiệm từ khi nhập ngũ và vay bố vợ 20.000 đôla để mua chuỗi cửa hàng Ben Franklin tại bang Arkansas. Ngay sau đó, ông mở rộng và biến chúng thành gã khổng lồ Wal-Mart ngày nay cùng hệ thống cửa hàng Sam’s Club. Sam Walton qua đời năm 1992, để lại toàn bộ tài sản cho vợ cùng các con.

    2. Tỷ phú dầu mỏ Roman Abramovich

     

    Abramovich mồ côi mẹ khi mới 18 tháng tuổi. Cha cũng qua đời trong một tai nạn lao động khi ông mới lên 4. Sau đó, Abramovich được người chú cùng bà ngoại nuôi dưỡng, tuổi thơ của ông rất khó khăn.

    Ngày còn trẻ, vị tỷ phú này rời đại học giữa chừng để theo đuổi đam mê kinh doanh với bước khởi nghiệp là bán vịt nhựa trong một căn hộ ở Moscow. Năm 1995, Abramovich giàu lên nhờ thâu tóm thành công hãng dầu lửa Nga Sibneft với giá hời. Sau đó ông tiếp tục mở rộng đầu tư sang các lĩnh vực công nghiệp nặng như nhôm, thép… Hiện ông cũng là người sở hữu du thuyền tư nhân lớn nhất thế giới.

    3. Ingvar Kamprad – Sáng lập IKEA

     

    CEO hãng đồ dùng gia đình số một thế giới IKEA sinh ra và lớn lên trong một nông trang thuộc vùng quê nhỏ. Tuy nhiên, ngay từ bé ông đã luôn thể hiện óc kinh doanh nhạy bén, chẳng hạn mua những món đồ phù hợp thị hiếu sử dụng của người dân quanh làng và bán lại cho họ. Sau này, Ingvar mở rộng thị phần sang các sản phẩm khác như cá, dịch vụ trang trí cây thông và bút viết.

    Chưa thỏa mãn, Ingvar Kamprad quyết tâm đánh liều vay tiền bố để sáng lập công ty dịch vụ kinh doanh đặt hàng qua thư mà sau này trở thành thương hiệu IKEA lừng danh thế giới. Tới nay, IKEA lại đặc biệt nổi tiếng trong lĩnh vực đồ dùng gia đình, Ingvar cũng thuê các nhà sản xuất địa phương để giữ giá luôn ở mức phải chăng. Dù năm qua trị giá tài sản ròng của Ingvar sa sút đáng kể nhưng ông vẫn có tên trong danh sách người giàu nhất thế giới với 6 tỷ USD.

    4. Leonardo Del Vecchio – CEO Ray-Bans và Oakleys

     

    Ngay từ nhỏ, Del Vecchio phải sống trong trại trẻ mồ côi vì người mẹ góa không đủ khả năng nuôi dưỡng cả 5 người con, trong đó có ông. Sau này, ông xin vào làm công nhân cho một nhà máy sản xuất khuôn kính mắt tự động. Đây cũng là nơi Del Vecchio bị mất một phần ngón tay do tai nạn lao động.

    Ở tuổi 23, ông đã kịp mở một cửa hiệu riêng chuyên bán kính mắt thời trang. Hiện tại, 2 thương hiệu Ray-Ban và Oakley do Leonardo Del Vecchio sở hữu có tới 6.000 chi nhánh trên khắp toàn cầu. Giá trị ròng tài sản của vị CEO này ước tính lên tới 10 tỷ USD.
    5. Tỷ phú giàu nhất châu Á Li Ka-shing

     

    Gia đình Li rời Trung Quốc sang Hong Kong vào năm 1940, sau đó cha qua đời vì bệnh lao khi Li mới 15 tuổi, khiến cậu bé phải bỏ học và đi kiếm tiền giúp gia đình. Công việc ông từng trải qua là làm túi và hoa nhựa để xuất khẩu sang Mỹ.

    Năm 1950, Li bắt đầu khởi nghiệp và thành lập công ty riêng thuộc lĩnh vực sản xuất nhựa. Sau này, ông có bước tiến dài hơn khi tiếp tục khai thác thị trường bất động sản, ngân hàng, viễn thông, vật liệu xây dựng, khách sạn… Hiện nay, Li được xem là người giàu nhất châu Á với tổng tài sản năm 2012 lên tới 25,5 tỷ USD.

    6. Howard Schultz – CEO Starbucks

     

    Khi còn nhỏ, Howard sống ở Brooklyn trong một gia đình khó khăn và ông luôn khao khát thoát khỏi cảnh nghèo. May mắn mỉm cười với Howard khi ông nhận học bổng vào Đại học Northern Michigan.

    Sau khi tốt nghiệp với bằng cử nhân ngành truyền thông, Howard xin vào làm việc cho Công ty Xerox suốt 7 năm. Tới năm 1982, cuộc đời ông thay đổi khi được nhận vào Starbucks và thăng chức giám đốc điều hành 5 năm sau đó. Hiện nay, Starbucks có 16.000 chuỗi cửa hàng bán lẻ khắp thế giới, góp phần nâng trị giá tài sản của Howard lên 1,1 tỷ USD.

    7. Sheldon Adelson – CEO Sands Hotel & Casino

     

    Tuổi thơ của Adelson gắn với khu chung cư cũ kỹ, nhà có 6 người và tất cả ngủ chung trên một chiếc giường. Bố ông là người Lithuania, một quốc gia thuộc vùng Baltic, làm nghề lái taxi, còn mẹ đan len để bán. Adelson bắt đầu rao báo kiếm tiền phụ giúp gia đình từ khi mới 12 tuổi, vài năm sau ông chuyển sang vận hành các máy bán hàng tự động.

    Adelson từng thử sức trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ đóng gói xà phòng trong khách sạn cho tới môi giới vay nợ trả góp. Hiện tại, ông là CEO của hệ thống khách sạn – sòng bạc lớn nhất nước Mỹ Sands Hotel & Casino, đồng thời quản lý casino danh giá The Venetian, Las Vegas.

Theo Vnexpress

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2012

Thời của những người "có tật nhưng có tài"

Vào năm 1956, trong cuốn sách bán chạy mang tên “The Organisation Man” (tạm dịch: “Người có tổ chức”), tác giả William Whyte lập luận rằng, các doanh nghiệp ở thời đó thích dùng những con người toàn diện đến nỗi, họ thẳng tay gạt phắt những thiên tài nhưng bị xếp vào hàng “có tật”.
Bài viết mới đây trên tờ The Economist cho rằng, ngày nay đã khác. Các hãng phần mềm tranh nhau tuyển những người đam mê máy tính nhưng thờ ơ với xã hội bên ngoài, trong khi các quỹ đầu cơ hút sạch những nhân vật có đầu óc về toán học và cổ phiếu nhưng bị xem là lập dị. Kinh đô điện ảnh Hollywood chuộng những người bốc đồng nhưng đầy khả năng sáng tạo, các nhà hoạch định chính sách cũng muốn nhờ đến các doanh nhân thích phá vỡ quy tắc để tạo thêm việc làm.

Không giống như trong trường học, thị trường giờ đang hết sức cởi mở với những con người trong nhiều trường hợp bị đánh giá là “gàn”. Không ít nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vực công nghệ, tài chính… mắc những chứng bệnh như rối loạn phát triển, tự kỷ, khó đọc,…

Các nhà tuyển dụng đã để ý và phát hiện ra rằng, các đặc tính tâm thần quyết định một nhà lập trình máy tính giỏi cũng giống như đặc tính tâm thần của một người mắc hội chứng Asperger, một dạng rối loạn phát triển kiểu tự kỷ dạng nhẹ, trong đó người mắc có mối quan tâm tới mức ám ảnh về những chủ đề nhỏ hẹp; đặc biệt yêu thích những con số, biểu đồ và máy móc; “nghiện” những công việc lặp đi lặp lại; và thiếu sự nhạy cảm về mặt xã hội. Ở Silicon Valley, một vài người nói vui rằng, Internet được tạo ra bởi và dành cho những người thờ ơ với xã hội, vì khi lên mạng, người ta có thể giao tiếp mà không cần phải gặp gỡ trực tiếp.



Tạp chí công nghệ Wired từng có lần gọi Internet là “hội chứng nghiện máy tính”. Phát biểu về những công ty Internet được thành lập trong thập kỷ qua, Peter Thiel - một nhà đầu tư vào mạng Facebook từ những ngày đầu - nói trên tờ New Yorker rằng: “Những người điều hành công ty này thuộc diện bị tự kỷ”. Yishan Wong, một cựu nhân viên Facebook, viết về ông chủ cũ Mark Zuckerberg rằng, nhà sáng lập này “chớm mắc chứng Asperger. Anh ấy không hay tích cực phản hồi hay xác nhận về việc anh ấy đang nghe người khác nói”. Craig Newmark, người sáng lập trang Craigslist thì cho biết, ông thấy những triệu chứng của bệnh Asperger “rất quen thuộc” với mình.

Trong lĩnh vực tài chính cũng đang diễn ra những câu chuyện tương tự. Những người nghiện các con số và tính toán dễ dàng nổi bật so với đám đông những nhà phân tích giống nhau khác. “Người hùng” Michael Burry được miêu tả trong cuốn sách “The Big Short” của Michael Lewis là một nhà quản lý quỹ thích sự đơn độc, có sở thích viết blog về thị trường chứng khoán trong thời gian còn học nghề y.

Các nhà quản lý quỹ đã chú ý nhiều tới Burry đến nỗi, ông quyết bỏ trường y và mở một quỹ đầu cơ riêng có tên Scion Capital. Sau khi phát hiện thấy có điều gì đó bất thường với thị trường cho vay thế chấp nhà của Mỹ, Burry đặt cược là thị trường này sẽ sụp đổ. “Người duy nhất mà tôi tin tưởng trong cuộc khủng hoảng này, chính là Burry - người mắc chức Asperger và luôn đeo kính”, Lewis phát biểu trên đài NPR.

Trong số các doanh nhân nói chung, tỷ lệ người có vấn đề về tâm thần cũng cao tới mức bất ngờ. Julie Login, một chuyên gia đến từ trường kinh doanh Cass Business School, đã nghiên cứu một nhóm doanh nhân và phát hiện ra rằng 35% trong số họ mắc chứng khó đọc (dyslexia), so với tỷ lệ 10% trên dân số Mỹ nói chung và 1% trong số các nhà quản lý chuyên nghiệp. Những người mắc chứng khó đọc nhưng gặt hái thành công đáng nể phải kể tới các nhà sáng lập hãng xe Ford; công nghiệp General Electric (GE); máy tính IBM hay nội thất IKEA; chưa kể tới những gương mặt trẻ hơn như Charles Schwab (nhà sáng lập một công ty môi giới chứng khoán); tỷ phú Richard Branson người Anh - nhà sáng lập tập đoàn Virgin Group; John Chambers của hãng công nghệ Cisco hay huyền thoại công nghệ Steve Jobs của Apple.

Theo The Economist, có nhiều cách giải thích về thực tế này. Người mắc chứng khó đọc học được cách triển khai công việc sớm (chẳng hạn khiến người khác làm bài tập ở nhà cho mình). Họ thường nghiêng về những công việc không mấy đòi hỏi bằng cấp chính thức và cũng không cần phải đọc, viết nhiều.

Hội chứng tăng động giảm chú ý (ADD) là một “bạn đồng hành” phiền toái khác của nhiều doanh nhân. Những người mắc ADD không thể tập trung lâu vào một việc. Điều này khiến họ trở thành “thảm họa” đối với cấp trên, nhưng lại là nguồn cung cấp nhiều ý tưởng mới. Một số nghiên cứu cho rằng, người mắc ADD có khả năng lập được công ty riêng cao gấp 6 lần so với người bình thường.

Ông David Neeleman, nhà sáng lập hãng hàng không giá rẻ JetBlue, cho biết: “Bộ não bị ADD của tôi, theo một cách tự nhiên, tìm kiếm được những cách thức tốt hơn để giải quyết công việc. Với tất cả những phiền phức của ADD như sự vô tổ chức, chần chừ, khó tập trung… bệnh này cũng đem đến sự sáng tạo và năng lực chấp nhận rủi ro”, ông Neeleman phát biểu.

Ông Paul Orfalea, người sáng lập công ty Kinko cùng một loạt doanh nghiệp khác, bị mắc cả ADD lẫn chứng khó đọc. “Tôi rất dễ bị buồn chán, nhưng đó lại là một động lực lớn. Tôi cho rằng, ai cũng nên bị ADD và chứng khó đọc”, ông Orfalea có lần nói.

Với sự “lên ngôi” của những thiên tài “có tật”, những người xuất chúng kiểu cổ điển sẽ đi về đâu? Tất nhiên họ vẫn sẽ ổn.

Một khi các công ty gia tăng sử dụng thiên tài “bất trị”, họ càng cần những nhà quản lý nhạy cảm để giữ công ty trong trật tự. Cần phải có những người đảm bảo các nhiệm vụ được hoàn tất, thu hút khách hàng… Những nhiệm vụ như thế được đảm nhiệm tốt nhất bởi những người không tạo ra ấn tượng rằng họ nghĩ người khác là ngu ngốc - điều mà những thiên tài “lập dị” dễ mắc phải. Chẳng hạn, Sheryl Sandberg, “cánh tay phải” của Mark Zuckerberg, làm khá tốt công việc này ở Facebook. Trên thực tế, nhiều công ty mới khởi nghiệp chỉ thoát khỏi “thảm họa” khi thay thế nhà sáng lập giỏi giang bằng nhà quản lý chuyên nghiệp. Dĩ nhiên, các nhà quản lý này cần học cách làm việc với người “gàn”.

Sự tập trung của những người có đầu óc “bất bình thường” đang gây ra những vấn đề mới. Những người làm việc trong các công ty đòi hỏi trí tuệ cao thường kết hôn với những người thông minh. Chuyên gia Simon Baron-Cohen từ Đại học Cambridge cho rằng, khi hai con người có đầu óc siêu phàm kết hôn, khả năng sinh ra những đứa trẻ bị Asperger hoặc tự kỷ là cao hơn bình thường. Chuyên gia này đã chỉ ra, những đứa trẻ sinh ra ở Eindhoven, một trung tâm công nghệ ở Hà Lan, có tỷ lệ bị tự kỷ cao hơn từ 2-4 lần so với trẻ em ở các thị trấn Hà Lan có quy mô tương tự khác. Ông cũng chỉ ra rằng, sinh viên theo học các ngành toán học, vật lý và kỹ thuật ở Đại học Cambridge có xu hướng có nhiều họ hàng bị bệnh tự kỷ hơn sinh viên học ngành văn học Anh.

Theo The Economist, hầu hết các nhà tuyển dụng đều ngại tuyển những người bị tự kỷ nặng, nhưng không phải là tất cả. Một công ty Đan Mạch có tên Specialist People rất chuộng tuyển người tự kỷ để làm những công việc đòi hỏi trí nhớ tốt hoặc có mức độ lặp đi lặp lại cao.

Nói rộng hơn, việc dùng người “có tổ chức” để thay thế người “vô tổ chức” đang khiến cán cân quyền lực thay đổi. Những thiên tài mắc các chứng bệnh về tâm thần có thể bị giễu cợt ở trường học hay bị bỏ rơi trong những bữa tiệc, nhưng ngày nay, rất nhiều công ty đang cần đến họ để phát triển. Anh Kiran Malhotra, một người làm về mạng ở Silicon Valley, nhận xét: “Thật tuyệt khi là một kẻ gàn!”    

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

Ai là người thừa kế 1.000 tỷ?

Vụ một phụ nữ đột ngột qua đời không để lại di chúc với khối tài sản 1.000 tỷ đồng đã gây xôn xao dư luận. Tranh chấp tài sản giữa những người thân là anh chị em bà với người con nuôi duy nhất của bà đã xảy ra. Liệu phần thắng sẽ thuộc về ai?
Ngày 31/5, trao đổi với PV VietNamNet, ông Lê Mạnh Hùng – Trưởng văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh (TP.HCM) xác nhận có việc văn phòng này đã lập một vi bằng ghi nhận lại khối tài sản trị giá 1.000 tỷ đồng do bà T.K.P để lại theo yêu cầu của các bên trong vụ tranh chấp. 

Tranh chấp khối tài sản “kếch xù”

Theo đó, bà T.K.P. (66 tuổi) ngụ tại quận Tân Phú, TP.HCM. Bà sinh ra trong một gia đình có 6 anh chị em, bà không có con đẻ mà chỉ có một người con nuôi duy nhất là chị T.H.H.L.(22 tuổi). Quá trình nhận nuôi chị L., bà P. đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về nhận con nuôi theo quy định của pháp luật.

 Ông T.V.P được mời đến Sacombank làm việc chiều 30/5. Ảnh: NLĐ

Lúc sinh thời, bà P. có nghề làm bún gạo do được cha mẹ truyền lại. Do làm ăn phát đạt nên cơ sở sản xuất bún gạo của bà ngày càng mở rộng quy mô sản xuất. Khối lượng tài sản bà sở hữu cứ thế lớn dần lên đến con số “khủng” tới cả ngàn tỷ đồng.

Do bà P. mất đột ngột không để lại di chúc nên phát sinh tranh chấp tài sản giữa những người là anh chị em ruột của bà P. với người con nuôi là chị L. Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh đã được mời đến lập vi bằng ghi nhận lại số tài sản kếch xù bà để lại trong két sắt trước sự chứng kiến của hai bên và công an địa phương. Khối tài sản bao gồm: 100 cây vàng, tiền mặt, 1 triệu USD, trang sức có rất nhiều kim cương, 17 cuốn sổ tiết kiệm trị giá lên tới cả trăm tỷ đồng. Ngoài ra, bà P. còn có rất nhiều tài sản là bất động sản, đất đai khác.

Lúc đầu, chúng tôi cũng chỉ cử một Thừa phát lại và một thư ký đi ghi nhận. Tuy nhiên, do khối lượng tài sản quá lớn nên sau đó chúng tôi phải huy động thêm 5 – 6 người nữa làm việc ròng rã cả tuần lễ mới xong”, Trưởng văn phòng Thừa phát lại Lê Mạnh Hùng cho biết. Khi được hỏi về vi bằng, ông Hùng cho biết theo nguyên tắc phải giữ bí mật thông tin cá nhân của khách hàng nên phía văn phòng không thể cung cấp.

Tuy nhiên, ông xác nhận thông tin mà một tờ báo đã đăng tải là tương đối chính xác.  

Sau khi kiểm kê, toàn bộ tài sản trong két sắt được hai bên tranh chấp thống nhất đem đi ký gửi tại Sacombanhk, thời hạn đến tháng 3/2012. Sau khi đến hạn, con gái bà P. là chị L. muốn rút số tài sản trên về nhưng anh chị em của bà P. không đồng ý. Liên quan đến nội dung tranh chấp, ông T.V.P. (em trai bà P.) cho rằng trong khối số tài sản nói trên có sự đóng góp công sức của cả dòng họ, trong đó có những người ở nước ngoài hùn hạp làm ăn với bà P.

Họ muốn gia hạn gửi tài sản để chờ những người ở nước ngoài về giải quyết. Vì khối tài sản quá lớn nên họ không muốn giao cho người con nuôi là chị L. quản lý.

Phần thắng sẽ thuộc về ai?

Theo luật sư, Lê Hà Thúy Lan – Đoàn luật sư TP.HCM: trong trường hợp trên theo thông tin cung cấp do bà P. không còn cha mẹ, không có chồng và con ruột thì về pháp luật thừa kế khối lượng tài sản trên đương nhiên sẽ thuộc về quyền sở hữu của người con nuôi – chị L bởi chị là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Theo quy định của pháp luật, nếu người chết không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thì khối tài sản sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật.

Ở đây, chị L. là con nuôi được xác nhận hợp pháp nên chị là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết). Những người thuộc hàng thừa kế sau chỉ được hưởng tài sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết nên không có quyền hưởng di sản, do bị truất quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản. Do vậy, chị L. đương nhiên được hưởng toàn bộ di sản theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, luật sư Lan lưu ý: Do chị L. là người thừa kế duy nhất đương nhiên theo pháp luật nên quan hệ tranh chấp giữa anh chị em của bà P. đối với khối tài sản bà để lại không thể giải quyết theo quy định về pháp luật thừa kế. Nếu anh chị em của bà P. chứng minh được họ có đóng góp một phần trong quá trình tạo lập khối tài sản thì có quyền khởi kiện, đòi phân phần tài sản tương đương với phần đóng góp của họ.

Đây là quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản chứ không phải tranh chấp về thừa kế. Muốn đòi lại tài sản, người có yêu cầu có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp thì mới được chấp nhận.

Không để lại di chúc, ni sư viên tịch, ai hưởng tiền?
 

 Năm 2010, TAND quận Tân Phú thụ lý hồ sơ vụ tranh chấp tài sản là 138.000 USD xung quanh việc một ni sư qua đời không để lại di chúc.

 Năm 1998, Ban trị sự Thành hội Phật giáo TPHCM bổ nhiệm ni sư Huệ Tịnh, thế danh Đỗ Thị Thiềng, làm trụ trì chùa Thiên Chánh (đường Khuông Việt, phường Phú Trung, quận Tân Phú). Tháng 5/2008, ni sư Huệ Tịnh viên tịch không để lại di chúc. Trước đó, ni sư đã gửi năm quyển sổ tiết kiệm tổng trị giá 138.000 USD tại ngân hàng.

 Vụ việc phát sinh tranh chấp khi em ruột ni sư là bà Đ.N.T. có gửi đến Ban đại diện Phật giáo Tân Phú, xin được nhận lại 5 quyển sổ tiết kiệm cùng giấy chứng tử để thực hiện quyền và nghĩa vụ của những người thừa kế theo quy định pháp luật. Ban đại diện Phật giáo Tân Phú cho rằng đây là tài sản của chùa, do phật tử thập phương đóng góp nên từ chối đề nghị trên. Bà T. và các đồng thừa kế đã khởi kiện ra tòa.

 Ngày 31/5/2012, trao đổi với VietNamNet, thẩm phán Phạm Thị Thu Hà – Phó Chánh án TAND quận Tân Phú (TP.HCM) cho biết hiện cơ quan này vẫn chưa có kế hoạch đưa vụ kiện ra xét xử sau nhiều lần hoãn phiên tòa.
M.Phượng