Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Những nỗi hận vì hợp tác với đại gia nước ngoài

Kỳ vọng hợp tác với các ông lớn ngoại dần biến thành nỗi thất vọng bởi kết quả không diễn ra như mong muốn, thậm chí đi ngược lại với mục đích ban đầu. Nhiều DN Việt giờ đây đang hối hận sau chuỗi ngày ngắn ngủi bắt tay với cổ đông nước ngoài.

Đứt chân vì đối tác ngoại
Chỉ khoảng 6 năm sau khi bắt tay với Coca Cola, các đối tác nội trong liên doanh như Vinafimex và Nước Giải Khát Đà Nẵng đã lần lượt bị ông trùm đồ uống Mỹ cho ra rìa.
Kỳ vọng của các DN nội ban đầu có lẽ rất lớn khi mà thị trường nước giải khát trong nước bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ và đối tác của họ sở hữu một thương hiệu hàng đầu thế giới. Nhưng đến nay, có lẽ quyết định bán cổ phần cho Coca Cola là một điều đau đớn, là bài học điển hình thất bại khi liên doanh với nước ngoài.
Sau gần 20 năm, Coca Cola Việt Nam đã trở thành một thương hiệu lớn ở thị trường nội địa nhưng đại gia đồ uống này cho đến nay vẫn chưa đóng một đồng thuế TNDN nào do liên tục khai lỗ.
Đại diện của Coca Cola cho rằng, tầm nhìn của tập đoàn này ở Châu Á - Thái Bình Dương là 2020, những khoản đầu tư mới chỉ mang ý nghĩa xây dựng vị trí dẫn đầu tại thị trường Việt Nam. Điều đó có nghĩa rằng, tập đoàn này sẽ tiếp tục mở rộng, doanh thu tiếp tục tăng nhưng sẽ vẫn lỗ. Đây là lý do khiến cho đối tác Việt Nam trong liên doanh chịu không nổi phải bán cổ phần cho đối tác với giá rẻ và rút lui.
Coca Cola, Tribeco, Bibica, Dạ Lan, Thanh Hương, nhà đầu tư, ngoại, nội, thâu tóm, mua bán, sáp nhập, FDI, chuyển giá, trốn thuế
CocaCola được cho là một nỗi xấu hổ đối với DN FDI Việt Nam.
Việc DN nội bị loại ra khỏi liên doanh hay bị thâu tóm diễn ra khá phổ biến ở một thị trường đang phát triển như Việt Nam. Cuối năm 2012, Công ty cổ phần nước giải khát Sài Gòn - Tribeco (TRI), một thương hiệu nước giải khát hàng đầu tại Việt Nam cũng đã buộc phải quyết định giải thể do thua lỗ triền miên. Mọi hoạt động của Tribeco Sài Gòn sẽ do Tribeco Bình Dương tiếp nhận.
Theo quyết định, sau khi giải thể, cổ đông TRI nhận về khoản tiền 2.300 đồng/cổ phiếu. Đây là một khoản tiền bèo bọt nhưng đành phải chấp nhận khi vốn chủ sở hữu cả âm trăm tỷ đồng.
Các nhà đầu tư đều biết rằng đây là một vụ thâu tóm. Thương hiệu Tribeco với 20 năm phát triển đã rơi vào tay Tribeco Bình Dương, vốn do nhà đầu tư nước ngoài nắm 100% vốn. Trong khoảng 5-6 năm liên tục, Tribeco đổ tiền vào xây dựng Tribeco Bình Dương cũng là lúc một cổ đông nước ngoài đầy kinh nghiệm Uni-President Việt Nam giành quyền kiểm soát tại Tribeco và kiểm soát toàn bộ Tribeco Bình Dương.
Tribeco Bình Dương do Uni-President chi phối đã biến Tribeco Sài Gòn thành nhà bán hàng thuần túy, không sản xuất. Tiền của Tribeco được đổ ra ồ ạt xây dựng hệ thống bán hàng, quảng bá sản phẩm... trong khi nhà sản xuất lại là Tribeco Bình Dương. Việc thua lỗ triền miên, bỏ cuộc trong một cuộc chơi đầy toan tính như vậy là khó tránh khỏi.

Sai lầm khó sửa chữa
Trong trường hợp của Tribeco hay các đối tác nội trong liên doanh Coca Coca Việt Nam, kết cục đã rõ. Sự thua thiệt của “bên” nội là không phải bàn cãi. Trên thực tế, vẫn còn nhiều DN hiện tiến thoái lưỡng nan với mối lương duyên nội-ngoại như trên. Trước thềm đại hội cổ đông 2013, đại diện Bibica (BBC) đã phải thừa nhận sai lầm khi hợp tác với tập đoàn Lotte của Hàn Quốc.
“Cuộc chiến” giữa BBC và Lotte chưa đến hồi kết do một cổ đông lớn khác là Chứng khoán Sài Gòn (SSI) không tham dự đại hội, chưa bày tỏ chính kiến. Tuy nhiên, mâu thuẫn dường như đã lên rất cao khi mà ban lãnh đạo còn không tin tưởng lẫn nhau và muốn một bên thứ ba độc lập kiểm phiếu.
Việc đối tác ngoại (nắm giữ 38%) muốn đổi tên Bibica thành Lotte và kiểm soát hệ thống phân phối cho thấy tập đoàn này muốn biến Bibica thành công ty con của họ. Kỳ vọng về sự hợp tác toàn diện giữa Bibica - Lotte, từ quản lý, công nghệ đến kỹ thuật, xuất nhập khẩu… giờ đây thực sự đã trở thành nỗi thất vọng.
Coca Cola, Tribeco, Bibica, Dạ Lan, Thanh Hương, nhà đầu tư, ngoại, nội, thâu tóm, mua bán, sáp nhập, FDI, chuyển giá, trốn thuế
Bibica hối hận về mối quan hệ với Lotte.
Không chỉ Bibica, giới tài chính trong nước trong thời gian gần đây tỏ ra khá lo ngại về hiện tượng các doanh nghiệp Việt bị ngoại hóa, bị thâu tóm. Cơ sở để nhiều chuyên gia đưa ra cảnh báo này là dòng vốn ngoại M&A đang chảy vào thị trường trong nước rất mạnh mẽ, tập trung vào nhiều ngành trong đó có vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, bánh kẹo, nước, cà phê…
Trường hợp gây ra nhiều lo ngại là ngành nhựa trong nước với động thái một đại gia ngoại PCL liên tục gia tăng cổ phần tại Nhựa Tiền Phong và Nhựa Bình Minh. Chưa biết kết quả như thế nào, nhưng rất có thể đây là bước đầu trong chiến lược trở thành nhà sản xuất và phân phối nhựa hàng đầu tại Việt Nam, bên cạnh thị trường Thái Lan, nơi TPC nắm 50% thị phần. Hay như sự thống trị của đối tác ngoại và sự lép vế của nội trong hoạt động của đại gia BigC như hiện nay.
Không chỉ rót tiền vào các thương vụ lớn (như SCG vào Prime, TPG và KKR vào MSN, Semen Gresik vào Xi măng Thăng Long…), các tập đoàn lớn cũng như quỹ đầu tư nước ngoài đang rót tiền cả vào các doanh nghiệp nhỏ trong nước. Hoạt động đầu tư tài chính đôi khi trở thành các thương vụ thâu tóm, sáp nhập.
Việc thu hút vốn ngoại là cần thiết trong bối cảnh doanh nghiệp nội thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu kinh nghiệm quản lý… Tuy nhiên, điều quan trọng có lẽ nằm ở khâu chọn đối tác. Việc đưa ra các ràng buộc như cổ phần tối đa, nguyên tắc thị trường trong việc lựa chọn nguyên liệu đầu vào, đầu ra… có thể là cần thiết để đảm bảo sự an toàn, sự ổn định của doanh nghiệp và hạn chế khả năng thao túng của các cổ đông lớn, tránh vết xe đổ của các sự vụ đau lòng vừa qua.

Mạnh Hà

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

TH Milk không theo kịp thị trường?

Sau 3 năm có mặt trên thị trường, tới giờ này TH Milk vẫn chưa xuất hiện tại phân khúc sữa chua - một phân khúc được những người trong ngành cho là “miếng bánh lợi nhuận hấp dẫn”.



Phi nước đại

Phải thừa nhận, các chuyên gia chiến lược thương hiệu của tập đoàn TH vô cùng giỏi trong việc tạo dựng câu chuyện hấp dẫn, gắn với sự ra đời của thương hiệu TH True MILK.

Chỉ sau 3 năm ngắn ngủi có mặt trên thị trường, thương hiệu này đã nhanh chóng làm cho người tiêu dùng choáng ngợp về mức độ thành công của họ (dù chưa có kiểm chứng), lấp đầy các trang báo mạng bằng những tít bài rất “sốc” (dù đôi khi có tác dụng ngược) và tấn công trực diện vào người khổng lồ Vinamilk (cuộc chiến truyền thông năm 2012).

TH giỏi ở chỗ biết chọn đúng thời điểm để truyền thông cho thương hiệu của mình, qua đó dẫn dắt người tiêu dùng đến thẳng các kệ sữa gắn mác TH True MILK trong siêu thị.

Những ai làm trong ngành đều biết, bản chất của ngành sữa trên thế giới là một ngành kinh doanh vận hành liên tục. Và chiếc bản lề mở ra cánh cửa thành công hay khép lại, chính là luồng tiền xoay chuyển không ngơi nghỉ, tiếng Anh gọi là “Money in, money out”.

Lấy ví dụ, với số lượng đàn bò của một công ty sữa khoảng 10.000 con thì công ty đó có thể chỉ cần đầu tư xây dựng một nhà máy công suất nhỏ. Khi công ty kinh doanh tốt và lợi nhuận khả quan thì họ sẽ dùng một phần để tái đầu tư nhằm tăng số lượng đàn bò lên gấp đôi.

Đến đây, câu chuyện trở nên phức tạp hơn nhiều, đòi hỏi doanh nghiệp phải tiếp tục mở rộng nhà máy, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ, máy móc, hệ thống bồn chứa, kho lạnh… để đáp ứng được sản lượng sữa gia tăng tương ứng.


TH Milk lỡ một nước cờ? 1Do ngành sữa là ngành kinh doanh phát triển không ngừng nghỉ, cho nên vấn đề lớn nhất TH phải đối mặt chính là sự liên tục của dòng tiền.

Sự việc diễn ra hệt như vậy với TH. Chỉ sau ba năm ra đời, từ số lượng đàn bò vỏn vẹn hơn 1.000 con, đến nay công ty đã nâng lên mức khoảng 26.000 con. Trong số này chỉ có 13.000 con cho sữa, chiếm tỷ lệ 50%.

Tạm tính bình quân mỗi con bò cho khoảng 27 lít sữa/ngày trong điều kiện thời tiết ôn đới (mùa đông ở miền Bắc và miền Trung, tức là từ tháng 11 năm trước đến tháng 3-4 năm sau) thì lượng sữa của TH vào khoảng 351.000 lít sữa/ngày.

Vào mùa hè nóng nực mỗi con bò chỉ cho tối đa 20 lít sữa/ngày. Gặp trời nóng, bò có thể bị stress nhiệt, gây ảnh hưởng đến chất lượng sữa. Về nguyên tắc, việc chăn nuôi bò sữa ở Nghệ An tạo ra thách thức lớn hơn nhiều cho chủ đầu tư so với những vùng có khí hậu thuận lợi hơn như Bảo Lộc hay Mộc Châu.

Theo tính toán, với diện tích một héc ta nuôi bò sữa tại Bảo Lộc có thể tạo ra mức doanh thu trung bình khoảng 100 triệu đồng/năm thì ở Nghệ An con số này chỉ vào khoảng 20 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, với một dự án có quy mô lớn như của TH Milk thì tất cả các bất lợi và nhược điểm về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng… đều có thể khắc phục triệt để bằng công nghệ hiện đại. Đây chính là thế mạnh lớn mà TH Milk cần khai thác triệt để.

Dự án nhà máy sữa lớn mà tập đoàn này đầu tư ở Nghĩa Đàn, Nghệ An được khởi công ngày 14/5/2010 có hệ thống trang trại quy mô lớn nhất Đông Nam Á với tổng mức đầu tư 1,2 tỷ USD. Toàn bộ dự án nằm trong vùng đất rộng 37.000 ha. Theo thông tin đăng tải trên trang web chính thức của công ty, họ “áp dụng chu trình khép kín về sản xuất sữa tươi sạch theo công nghệ hiện đại nhất thế giới hiện nay”. Cụ thể, đàn bò nhập khẩu từ những nước chăn nuôi bò sữa nổi tiếng thế giới như New Zealand, Mỹ, Úc… để đảm bảo bò cho ra loại sữa tốt nhất.

Hệ thống trang trại được áp dụng các tiêu chuẩn và quy cách chuồng trại chăn nuôi “tiên tiến nhất trên thế giới” (có mái che, gắn quạt mát, bò được nghe nhạc, tắm hàng ngày…). Hệ thống vắt sữa ở đây hoàn toàn tự động và sữa vắt ra được kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo quản ở điều kiện tốt nhất. Công nghệ tiệt trùng của nhà máy sữa TH cũng được công ty này giới thiệu là “hiện đại bậc nhất”.

Trên thực tế, khó có lý do nào để nghi ngờ về quy mô và mức độ hiện đại của nhà máy sữa TH. Nhưng nút thắt của TH lại nằm ở điểm này.

Nhưng có lỡ nước cờ?

Sau một thời gian vận hành nhất định, dây chuyền máy móc thiết bị của TH được khấu hao, số lượng đàn bò tăng và công ty có khả năng tối ưu hóa sản lượng sữa ngày càng tăng do đàn bò cung cấp.

Nếu xét về mặt hiệu quả kinh doanh, công ty này chắc chắn được hưởng lợi trong dài hạn. Mặt khác, mặc dù chi phí vốn đầu tư ban đầu bỏ ra rất lớn (1,2 tỷ USD như công bố của TH), song giá sữa mà TH bán ra thị trường sẽ giảm dần trong tương lai do các chi phí sản xuất cũng giảm dần vì nhà xưởng máy móc đã khấu hao, trong khi lượng sữa cung ứng cho thị trường sẽ tăng lên tương ứng với sự gia tăng đàn bò.

Vậy đâu là nút thắt? Hãy tưởng tượng một con người đang trong giai đoạn trưởng thành, càng lớn càng cần hấp thụ nhiều thực phẩm hơn so với hồi bé, để phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ. “Đứa trẻ” TH cũng cần được “cho ăn” liên tục, ngày càng nhiều hơn để không bị suy dinh dưỡng. Do ngành sữa là ngành kinh doanh phát triển không ngừng nghỉ, cho nên vấn đề lớn nhất TH phải đối mặt chính là sự liên tục của dòng tiền. Nó chả khác nào dòng máu lưu thông trong cơ thể vậy.

Ở giai đoạn ban đầu với đàn bò quy mô nhỏ, vốn đầu tư cho hệ thống trang trại có thể chỉ cần vài trăm tỷ đồng. Nhưng khi đàn bò phát triển theo cấp số nhân, bắt buộc công ty phải mở rộng nhà máy ở quy mô tương ứng. Và đằng sau bao giờ cũng là câu hỏi đầu tiên: “Tiền đâu”? Mức độ hiện đại hóa của dây chuyền sản xuất càng được nâng cao thì càng cần nhiều vốn. Cho nên nhiều người trong ngành hay nửa đùa nửa thật, đằng sau “Câu chuyện thật” (Slogan chính thức của TH True MILK) là nguồn “tiền thật” và ngay lập tức.


TH Milk lỡ một nước cờ? 2Cho dù có khó khăn, vốn dự án chưa giải ngân được, TH vẫn có kế hoạch khai trương nhà máy sữa có công suất 600 tấn sữa/ngày thuộc giai đoạn 1 của cụm nhà máy mang tên “Mega Plant” có tổng công suất lên tới 1.700 tấn sữa/ngày.

Những gì đang diễn ra tại TH cho thấy, tham vọng của họ là cực kỳ lớn. Khát vọng mãnh liệt là tốt, nhưng có lẽ ngay từ khi bắt đầu dự án này, các nhà quản trị của tập đoàn TH chưa hình dung hết sự khắc nghiệt của ngành sữa. Không giống như trong lĩnh vực địa ốc, cứ vay vốn, xin đất rồi xây nhà lên bán đi là thu tiền về. Tốc độ thu hồi vốn của một công ty sữa lâu hơn nhiều, lại đòi hỏi tái đầu tư liên tục.

TH đặt mục tiêu nâng số lượng đàn bò lên đến 137.000 con vào năm 2017 trong khi hiện nay họ mới có 26.000 con. Có nghĩa là trong vòng 4 năm tới, TH phải tăng thêm tới 111.000 con. Tính trung bình mỗi năm phải tăng thêm 27.750 con. Bài toán này tương đối khó giải với TH nếu nhìn tốc độ tăng trưởng bình quân của đàn bò tính từ khi dự án TH Milk ra đời năm 2010 đến nay.

Trong báo cáo “Khảo sát, đánh giá tình hình sản xuất và thị trường sữa năm 2012, dự báo năm 2013” của TS. Tống Xuân Chinh, Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) về thị phần sữa nước, Vinamilk dẫn đầu với 40-50%, Dutch Lady 25%, Mộc Châu 10%, IDP 5%, Hanoimilk 5%, các công ty khác 15%. Không thấy nhắc tới TH Milk, nhưng ước tính thị phần sữa nước của công ty này riêng ở phía Bắc là khoảng 30%.

Theo lời bà Thái Hương, Chủ tịch Tập đoàn TH vào ngày 8/3/2013, cho dù có khó khăn, vốn dự án chưa giải ngân được, TH vẫn có kế hoạch khai trương nhà máy sữa có công suất 600 tấn sữa/ngày thuộc giai đoạn 1 của cụm nhà máy mang tên “Mega Plant” có tổng công suất lên tới 1.700 tấn sữa/ngày.

Hiện tại, TH chỉ có duy nhất sữa nước (sữa tươi tiệt trùng) bao gồm nhiều dòng sản phẩm như sữa nguyên chất 180 ml, sữa ít đường 180 ml, sữa có đường 110 ml, sữa hương dâu 180 ml và sữa hương sô-cô-la 180 ml. Năm 2012, họ đã giới thiệu thêm ba sản phẩm mới loại 180ml là sữa tươi tiệt trùng bổ sung collagen; sữa tươi tiệt trùng bổ sung phytosterol; sữa tươi tiệt trùng bổ sung canxi. Tuy nhiên, việc chậm chân trong cuộc đua ở phân khúc sữa chua phần nào làm giảm hiệu quả kinh doanh của TH.

Nên nhớ, các tập đoàn sữa lớn trên thế giới như Danone đều có danh mục sản phẩm cực kỳ đa dạng chứ không chỉ riêng sữa. Và sữa chua là miếng bánh lợi nhuận cực kỳ hấp dẫn với các hãng sữa. Vậy nên các công ty tại thị trường Việt Nam, từ Vinamilk, FrieslandCampina cho đến IDP (thương hiệu sữa tươi Ba Vì mới tung ra sản phẩm sữa tươi, sữa chua Love’in Farm), Mộc Châu đều đã có các sản phẩm sữa chua riêng của họ. Mộc Châu còn có phô mai và IDP thì đã có sữa chua Love’in Farm từ đầu năm. Người khổng lồ Vinamilk thì có nhiều dòng sữa chua khác nhau.

Thị trường đang chờ xem TH đi lại nước cờ bị lỡ này như thế nào.

(Nguồn: Doanh Nhân)

Vì đâu nền kinh tế Việt Nam tuột dốc?

Sau 5 năm kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và gần 7 năm kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), kinh tế Việt Nam đang ở trong tình trạng khá bi đát. Có ý kiến đánh giá Việt Nam đã không may vì phải chịu tác động của khủng hoảng toàn cầu...
Tuy nhiên, người viết cho rằng những rắc rối hiện nay của Việt Nam chủ yếu là do những vấn đề nội tại chứ không phải tác động từ bên ngoài. Một trong những vấn đề chính là khu vực trong nước đã từ bỏ việc tận dụng lợi thế, tập trung cho sản xuất kinh doanh sang đầu cơ tài sản trong bối cảnh “căn bệnh Hà Lan” đã làm tổn hại nghiêm trọng sức cạnh tranh của khu vực sản xuất.


Kỳ vọng quá mức và thay đổi hành vi

Trước khi gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã đạt được những sự cải thiện đáng kể, nhất là sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) được ký kết và có hiệu lực từ năm 2001.

Những lợi thế đã được phát huy, xuất khẩu gia tăng mạnh, nhất là những mặt hàng liên quan đến nông nghiệp và thủy sản hoặc thâm dụng lao động như da giày và dệt may.

Nhiều doanh nghiệp, nhất là khu vực dân doanh sau sự cởi mở của Luật Doanh nghiệp năm 2000, tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ thực cho xã hội đã ăn nên làm ra với suất sinh lợi khá cao (vài chục phần trăm). Đây chính là nền tảng tạo ra mức tăng trưởng kinh tế 7-8% cho Việt Nam.

Khi gia nhập WTO, hầu hết người dân Việt Nam cũng như nhiều nhà đầu tư nước ngoài kỳ vọng các cơ hội sẽ được hiện thực hóa và Việt Nam sẽ có được tốc độ tăng trưởng kinh tế khả quan hơn. Những khoản tiết kiệm trong nước được mang ra cùng với một dòng vốn khổng lồ chảy vào Việt Nam đón đầu cơ hội.

Chỉ trong mấy tháng, chỉ số chứng khoán VN-Index đã tăng gần bốn lần và trong vòng hơn một năm, giá bất động sản cũng có mức tăng tương tự. Điều này có nghĩa rằng, nền kinh tế Việt Nam được kỳ vọng sẽ “nở ra” nhanh chóng, trong một tương lai thấy trước.

Giá như các doanh nghiệp tận dụng tốt cơ hội mở cửa, tiếp tục tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm thì kỳ vọng sẽ thành hiện thực. Kinh tế sẽ tăng trưởng cao hơn và giá trị chứng khoán và bất động sản tăng chóng mặt nêu trên sẽ trở nên hợp lý sau một thời gian.

Tuy nhiên, điều không may là hành vi của các doanh nghiệp và nhà đầu tư đã thay đổi. Nếu tiếp tục tập trung vào hoạt động kinh doanh hiện tại thì suất sinh lợi chỉ là hàng chục phần trăm, trong khi đầu tư vào các tài sản (cổ phiếu và bất động sản) thì con số có thể là hàng trăm, thậm chí hàng nghìn phần trăm. Một số người, trên thực tế, đã có được mức sinh lợi này

Khó có ai có thể cưỡng lại cám dỗ. Giá cổ phiếu và bất động sản tăng là thật, và lãi là thật. Thay vì tiếp tục tập trung các các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra của cải cho xã hội, nhiều người đã “nhảy” vào chứng khoán và bất động sản, mà nói chính xác là đi đầu cơ tài sản.

Sự chuyển hướng đồng loạt đã tạo ra cầu đột biến cả về hàng hóa và nguồn nhân lực trong khu vực tài sản. Việc kiếm tiền quá dễ dàng làm cho việc trả lương và chi tiêu trở nên hào phóng hơn.

Từ những mức lương không đến nỗi nào trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh trước đây, nhiều người đã có được những mức lương hay thu nhập chỉ nằm mơ mới thấy.

Lúc này mọi người chỉ tập trung vào việc mua mua - bán bán, chứ không còn “chí thú làm ăn” như trước đây. Những cơ hội đã không được tận dụng, trong khi rắc rối ngày một nhiều hơn và để lại hậu quả ngày hôm nay.

Thêm dầu vào lửa

Sau khi gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã bị nhiễm “căn bệnh Hà Lan” (Dutch Disease) mà nó được hiểu là dòng vốn lớn chảy vào làm đồng tiền trong nước lên giá dẫn đến hàng hóa sản xuất trong nước trở nên đắt đỏ hơn so với hàng hóa của các nước khác. Hậu quả là khu vực sản xuất trong nước trở nên kém cạnh tranh hơn. 

Nghiêm trọng ở chỗ là sự bất hợp lý trong các chính sách vĩ mô trong thời gian qua đã làm cho căn bệnh này trở nên trầm trọng hơn.

Đầu tiên phải kể đến sự bị động trong việc ứng phó với dòng vốn khổng lồ từ bên ngoài đổ vào Việt Nam trong năm 2007. Lúc bấy giờ, dường như Ngân hàng Nhà nước chỉ chú trọng làm một việc duy nhất là tung tiền đồng ra để mua USD mà “quên” mất các giải pháp trung hòa. Hậu quả là nền kinh tế bị “ngập lụt” tiền đồng. Lạm phát bắt đầu phi mã từ cuối năm 2007 và chạm mốc gần 30% vào cuối quý 1/2008.

Việc thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát chỉ được thực hiện trong một thời gian ngắn. Lấy lý do ứng phó với khủng hoảng tài chính thế giới và suy giảm sản xuất kinh doanh trong nước, chính sách tiền tệ đã tiếp tục được nới lỏng.

Việc “cố gắng” ổn định tỷ giá trong bối cảnh lạm phát cao như cú đánh kép vào khu vực sản xuất trong nước. Trong gian đoạn 2006-2012, mức giá chung của cả nền kinh tế Việt Nam đã tăng gấp đôi, tỷ giá tiền đồng so với USD chỉ tăng 30% đã làm cho các sản phẩm nhập vào Việt Nam (máy tính, điện thoại của Apple chẳng hạn) rẻ hơn, trong khi gạo hay các sản phẩm khác của ta đắt đỏ hơn.

Do vậy, không có gì ngạc nhiên khi mà rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp khốn khó trong hoạt động sản xuất kinh doanh buộc phải đóng cửa hay phá sản trong thời gian gần đây, cho dù họ không hề có những hoạt động đầu cơ tài sản.

Hơn thế, việc cho phép sở hữu các ngân hàng quá dễ dàng và thất thoát trong đầu tư và chi tiêu công do tham nhũng đã làm tăng tính “liều mạng” đầu cơ vào các tài sản. Ước muốn và khả năng giàu nhanh chóng mà không phải làm gì đã “thực tế hơn” đối với nhiều người.

Hậu quả là nhiều người trở nên “lười hơn”, chỉ muốn “ngồi mát ăn bát vàng”, chứ không còn chí thú làm ăn như trước. Hơn thế, "căn bệnh Hà Lan" đã làm cho sản xuất trong nước kém cạnh tranh hơn nên có muốn thì cũng khó mà mở rộng hoạt động.

Một nghiên cứu gần đây của chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright chỉ ra rằng, ba trong bốn động cơ của cỗ máy tăng trưởng Việt Nam gồm: khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế dân doanh và khu vực nông nghiệp đang gặp trục trặc. Chỉ có một ngoại lệ là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn đang ăn nên làm ra, do họ đã tận dụng được những lợi thế của nền kinh tế Việt Nam và miễn nhiễm được với những tác động tiêu cực.

Do vậy, nếu bỏ khu vực FDI sang một bên và chỉ phân tích ba khu vực còn lại thì nền kinh tế Việt Nam sẽ bi đát hơn nhiều, mà nguyên nhân chủ yếu là do ta chứ không phải do tác động từ bên ngoài.

Tiến thoái lưỡng nan

Trước khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đã chí thú làm ăn, tận dụng được lợi thế của Việt Nam để tập trung vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra của cải cho xã hội. Kết quả là các doanh nghiệp ăn nên làm ra, tăng trưởng kinh tế cao và tạo tâm lý lạc quan, hồ hởi cho toàn xã hội.

Ngược lại, sau khi gia nhập WTO, nhiều doanh nghiệp và cá nhân đã quay sang đầu cơ tài sản, bỏ bê các hoạt động sản xuất kinh doanh chính, dẫn đến thua lỗ và nợ xấu tăng cao.

Nhiều doanh nghiệp đang rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Nếu buông các hoạt động đầu cơ để tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi (ví dụ dịch vụ taxi chẳng hạn) thì sẽ tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội. Tuy nhiên, khi đó phần mất từ hoạt động đầu cơ sẽ cao hơn rất nhiều phần được từ hoạt động kinh doanh, và chủ doanh nghiệp có khả năng sẽ trắng tay.

Do vậy, hành vi hợp lý của nhiều doanh nghiệp là tiếp tục tập trung nguồn lực để duy trì các hoạt động có tính đầu cơ với hy vọng thị trường tài sản sẽ “nóng” trong tương lai để không chỉ tránh được tán gia bại sản mà còn có cơ hội làm giàu trở lại. Lúc này, nợ xấu ở các ngân hàng khó mà giải quyết và nguồn lực không được dành cho hoạt động sản xuất kinh doanh thực sự. Hậu quả là kinh tế Việt Nam tiếp tục khó khăn.

Hơn thế, còn một vấn đề rắc rối nữa là không đơn giản để một số người đã quen với mức thu nhập cao chuyển sang từ bỏ những hoạt động đầu cơ tài sản để quay lại các hoạt động sản xuất kinh doanh, với mức thu nhập thấp hơn nhiều. Một người đã khẳng định được tên tuổi trong ngành tài chính cho rằng có khi Việt Nam phải mất cả một thế hệ doanh nhân nữa may ra mới làm lại được.

Trong hoàn cảnh hiện nay, nếu tiếp tục bơm tiền thì nhiều người vẫn có cơ hội níu kéo các hoạt động đầu cơ đang thua lỗ và “mặc kệ” các hoạt động kinh doanh chính yếu có hiệu quả của mình.

Do vậy, thắt chặt tín dụng để buộc các doanh nghiệp phải cơ cấu lại có lẽ là giải pháp. Những người kinh doanh bất cẩn sẽ phải trắng tay, để những người có khả năng hơn tiếp quản và sử dụng các nguồn lực của xã hội hiệu quả hơn - đây chính là triết lý cơ bản của phá sản, hay sự phá hủy sáng tạo. Đương nhiên, đây chỉ là giải pháp cho vấn đề này và Việt Nam cần tiến hành ngay một sự cải cách sâu rộng, toàn diện và thực chất.

Huỳnh Thế Du
(Vneconomy)