Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013

Chiến lược Đại dương xanh qua ví dụ sản phẩm Galaxy Note II

Một trong những khó khăn lớn nhất của thị trường công nghệ hiện nay chính là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các đối thủ. W. Chan Kim và Renée Mauborgne, hai giáo sư uy tín tại Viện INSEAD - Pháp đã đưa ra khái niệm "Đại dương xanh" - một phân khúc thị trường mới để tạo bước tiến và nhanh chóng giành thị phần trong phân khúc thị trường do mình tìm ra. 


 



Để thực hiện chiến lược "Đại dương xanh", doanh nghiệp phải dùng khả năng sáng tạo của mình để tìm thấy hoặc tạo ra một thị trường cho riêng mình. Cụ thể là phải nắm rõ những nhu cầu chưa được đáp ứng của khách hàng vốn có lẫn khách hàng tiềm năng và làm thỏa mãn những nhu cầu đó.

Chiến lược "Đại dương xanh" đã mang đến sự thành công cho nhiều doanh nghiệp ở nhiều lĩnh vực. Riêng mảng công nghệ, Samsung gây chú ý nhờ việc khám phá và tạo ra một "Đại dương xanh" cho sản phẩm Galaxy Note của mình. 

Trong khi hầu hết các ông lớn của làng công nghệ đều cuốn vào cuộc “chạy đua cấu hình” thì Samsung lại phát triển phân khúc mới. Với những tín đồ công nghệ thì việc sản phẩm có kích thước màn hình rộng hơn một smartphone bình thường để “giải được bài toán nhu cầu” cho sự kết hợp giữa di chuyển và làm việc cũng như giải trí chất lượng cao. 

Bằng việc vận dụng chiếc lược "Đại dương xanh", Samsung đã tạo ra phân khúc mới với Galaxy Note II và góp phần thay đổi nhận thức của người tiêu dùng vốn đã từng ưa chuộng “tỉ lệ vàng 3.5 inch”.

Với sự chạy đua của các công ty công nghệ khác trong việc tạo ra các mẫu smartphone màn hình lớn, Samsung đã chứng minh sự đúng đắn trong việc áp dụng chiến lược "Đại dương xanh".

Những thành công điển hình của quá trình vận dụng chiến lược "Đại dương xanh" không phải ít. Nintendo lọt vào danh sách top 10 công ty sáng tạo nhất năm 2008 theo đánh giá của BCG (Boston Consulting Group) nhờ tạo ra Wii - một hệ máy chơi game đột phá có khả năng mang lại trải nghiệm chân thực hơn cho các game thủ. 

Hãng hàng không Southwest Airlines lại tự tạo cho mình một phân khúc thị trường mới bằng cách cung cấp các chuyến bay giá rẻ với lịch bay linh hoạt. Bằng cách này, họ đã miễn nhiễm với sự cạnh tranh từ các hãng hàng không cũng như các hình thức vận chuyển đường bộ. 

(Nguồn: Samsung Việt Nam)

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

Doanh nghiệp nhỏ không thể lớn nổi

Một số chính sách hỗ trợ từ Chính phủ dường như chỉ có doanh nghiệp lớn tiếp cận được. Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã yếu càng yếu hơn chứ nói gì đến chuyện “lớn” lên.

Đại diện nhiều doanh nghiệp (DN) sản xuất, kinh doanh nói thẳng DN nhỏ thì thấp cổ bé họng, chờ ưu đãi, hỗ trợ biết đến bao giờ? Giờ an phận cho xong chứ muốn “lớn” lên đâu dễ!

Tại sao chỉ cứu DN lớn?

Bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Chủ tịch HĐQT Công ty Giải pháp Nhân lực:

Theo thống kê, hai năm trở lại đây có hàng trăm ngàn DN đóng cửa. Tôi cho rằng đó mới chỉ là con số trên giấy, thực tế còn nhiều DN “gác kiếm về vườn” trong lặng lẽ.

Kinh tế suy thoái, DN lớn khó khăn một thì DN nhỏ còn khó khăn gấp 10 vì nội lực của họ yếu hơn, khó tiếp cận các gói chính sách ưu đãi. Chỉ có khoảng 30% DN tiếp cận được với nguồn vốn vay từ ngân hàng, số còn lại phải tự xoay xở, tự bỏ tiền túi.

Từng trực tiếp điều hành DN và là cố vấn cho các DN vừa và nhỏ, tôi nhận thấy nguyên nhân khiến họ không “lớn” được, thậm chí “chết” hàng loạt là do suy thoái kinh tế chung. Tuy nhiên, trong đó có nguyên nhân nội tại do thiếu giải pháp tối ưu từ cơ quan quản lý đến DN.

Ví như năm 2009, Chính phủ có gói hỗ trợ 4% lãi suất cho các DN sản xuất, kinh doanh. Đó là chính sách “ăn xổi” vì chỉ giải quyết được trước mắt mà không căn cơ, triệt để. Nhiều DN dùng gói đó để đảo nợ chứ không đầu tư sản xuất, kinh doanh. Mới đây, Chính phủ cũng có nhiều gói hỗ trợ cho DN vừa và nhỏ nhưng họ cũng không với tới được. như chính sách giãn thuế VAT, thuế thu nhập DN… chỉ giúp DN nào đang sống khỏe, khỏe thêm. Còn DN nào đã yếu rồi thì gói ưu đãi này cũng không tác dụng mấy cho họ. Nhưng chưa hẳn DN nào có doanh thu thấp hoặc mới lỗ thì có nghĩa là họ “đáng chết”.


Chỉ có khoảng 30% DN tiếp cận được với nguồn vốn vay từ ngân hàng, số còn lại phải tự xoay xở

Cần nhắc lại rằng DN vừa và nhỏ đang quá yếu rồi. Nếu như 2-3 năm trước, có khó khăn họ vẫn gắng gượng đeo bám nhưng giờ tôi thấy họ buông luôn. Cơ chế của mình chỉ mới giúp các DN lớn khó chết. Họ chỉ có khó khăn chút ít và người ta không thể để họ chết nên lại hỗ trợ ngay. Còn DN nhỏ thì đâu được vậy, hết vốn thì bị siết nợ, bán nhà, đóng cửa… Vì vậy, việc cứu DN lớn hay DN vừa và nhỏ là một bài toán cần sự cân đối, nhằm làm sao cùng hỗ trợ được các DN có năng lực và khả năng đeo bám tiếp trên thương trường.

Để giá nhảy múa cũng là “giết” DN

Ông Trần Văn Long, Tổng Giám đốc Công ty CP Truyền thông Du lịch Việt:

DN tôi được thành lập vào năm 2008, ngay vào năm nền kinh tế bắt đầu suy thoái. Bản thân tôi không nghĩ kinh tế suy thoái lâu đến thế. Đến hết năm 2010, tôi nghĩ Chính phủ kích cầu thì DN sẽ không còn lo ngại và đến hết năm 2011 sẽ khởi sắc. Thế nhưng nhìn vào cục diện hiện nay đã rõ.

Thực tế, khi đã tham gia kinh doanh thì ai cũng phải đặt xác suất thắng và thua. Tôi cũng tự đặt ra xác suất có thể thua ít nhất 30%. Nhưng rõ ràng thời gian vừa qua, tôi lại thấy đặt ra con số đó còn quá khiêm tốn. Vì vậy, trong những năm khó khăn, DN tôi phải co cụm lại chứ không đầu tư thêm nữa.

Giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các DN dịch vụ như chúng tôi là cơ quan quản lý cần kiểm soát chặt giá cả, tránh tình trạng tăng giá vô tội vạ bởi chính điều đó cũng đang “giết” DN.

Muốn “lớn” phải nhất thân, nhì thế

Ông Nguyễn Văn Kịch, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cá tra Việt Nam:

Năm 2012 vừa rồi, hàng ngàn tỉ đồng của Nhà nước đã tung ra để hỗ trợ vốn cho DN sản xuất, ngành nông nghiệp còn được giảm lãi suất xuống 9%-11%. Nhưng thử hỏi bao nhiêu DN nhỏ và vừa của ngành thủy sản tiếp cận được nguồn vốn, được giảm lãi suất xuống mức đó? Xin thưa là chưa có! Nếu có chỉ là những DN lớn hoặc DN nhà nước. Thử hỏi có ngân hàng nào coi DN nhỏ và vừa là khách hàng tiềm năng? Họ có chính sách đầu tư hỗ trợ cho DN vay đơn giản vì họ cần có tài sản thế chấp đảm bảo. Thử hỏi bao nhiêu nguồn ngân sách hỗ trợ đầu tư từ Nhà nước mấy năm nay tập trung cho đối tượng DN nào: DN nhà nước, DN lớn. Chỉ thấy mấy ông DN nào “nhất thân, nhì thế” thì tiếp cận được, nguồn vốn tung ra chỉ một bộ phận chia nhau dạng “lợi ích nhóm”. Nói thật DN còn chẳng nghe cái chính sách hỗ trợ đến đâu.

Môi trường đầu tư đang “quá công bằng”

Ông Vũ Phước Hậu, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Chế biến Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam:

DN nhỏ và vừa chủ yếu là DN sản xuất, giải quyết 90% việc làm cho lao động cả nước nhưng nghịch lý là chưa được đầu tư tương xứng. Nghe hô hào đầu tư cho DN nhỏ và vừa mà chẳng thấy đâu, toàn nghe giải cứu mấy DN nhà nước lớn làm ăn thua lỗ, ưu đãi thuế, phí… cho DN FDI. Thuế, phí, lãi suất cao và cách điều hành nền kinh tế dường như đang được đánh đồng cho tất cả loại hình DN. Và với thế yếu hơn, DN nhỏ và vừa chẳng thể nào nhận được sự hỗ trợ, sự đầu tư vì môi trường hoạt động kinh doanh đang “quá công bằng”, ai cũng như ai nên ai mạnh hơn thì thắng.

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

Mạng xã hội tác động người tiêu dùng như thế nào?

Khi Mark Zuckerberg bắt tay vào lập trình những dòng đầu tiên của Facebook vào ngày 28 tháng 10 năm 2003, có lẽ anh không thể hình dung đứa con tinh thần của mình sẽ làm thay đổi cả thế giới về kinh tế lẫn xã hội.


Đã có rất nhiều bài phân tích về Facebook làm thay đổi cách giao tiếp của con người như thế nào, nhưng hãy nhìn lại Facebook và những mạng xã hội khác (Twitter, Youtube, Instagram, Pinterest…) đã thay đổi nền kinh tế như thế nào.

Đằng sau nút “Like” và “Follow”


Vẫn còn nhiều tranh cãi về giá trị kinh tế của một người hâm mộ (fan) hay người theo dõi (follower) trên mạng xã hội đối với các công ty, nhưng có một số thị trường hay ngành hàng thì hiệu quả này là quá rõ ràng.

Đứng đầu bảng về giá trị kinh tế (theo số liệu đo lường được) không phải là gã khổng lồ Facebook mà là “cô nàng” Pinterest; đặc biệt đối với những ngành hàng thiên về triển lãm thị giác như thời trang, mỹ phẩm, nội thất… Theo trang web mua bán Shopify, những người truy cập đến với website bán lẻ từ Pinterest sẽ có tỉ lệ mua hàng cao hơn 10% so với người truy cập đến từ các mạng xã hội khác.

Không mang lại doanh thu đến mức “ngay và luôn” như Pinterest, nhưng rõ ràng Facebook hay Foursquare có một sức ảnh hưởng lâu dài đối với quyết định của người tiêu dùng. Theo công ty nghiên cứu thị trường Econsultancy, một sản phẩm/thương hiệu sẽ trở nên hấp dẫn gấp 3 lần đối với một người tiêu dùng nếu người đó biết rằng bạn bè và người thân của mình cũng sử dụng sản phẩm/thương hiệu tương tự.

Và các mạng xã hội Facebook và Foursquare lại làm cho việc tuyên bố “tôi đang sử dụng sản phẩm này” trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Hãy hình dung, mỗi khi bạn cập nhật một dòng status khen một quán cà phê nào đó, địa điểm trên bỗng trở nên cực kỳ thu hút với bạn bè và người thân của bạn.

Tại Úc, nơi bạn có thể mua tất cả mọi thứ chỉ với một cú click chuột thì việc giành fan/follower không chỉ là cuộc đua tiếp thị phù phiếm. 80% người tiêu dùng tại Úc kết nối với ít nhất một thương hiệu trên mạng xã hội và 29% kết nối với hơn 10 thương hiệu. Họ xem đó là một biểu hiện cho sự ủng hộ của mình đối với thương hiệu. Và lợi ích họ mong muốn nhận được từ việc kết nối là được cập nhật sớm nhất về các sản phẩm cũng như được tham gia những chương trình khuyến mãi dành riêng cho các thành viên.

Với sự phát triển của mạng xã hội, việc hỏi đáp trao đổi với thương hiệu trên mạng xã hội cũng gần gũi và dễ dàng như việc hỏi han người bán tạp hóa gần nhà bạn cách đây 20 năm vậy. 33% người tiêu dùng tại Úc xem mạng xã hội là kênh trao đổi hiệu quả và thân thiện nhất đối với thương hiệu, so với chỉ 25% chọn trao đổi qua website và 13% qua email. Trên mạng xã hội, người tiêu dùng cảm thấy thoải mái và thật sự được lắng nghe.

Sự ảnh hưởng không chỉ dừng lại ở việc cập nhật thông tin. Trung bình sau 3 tháng kể từ khi kết nối với thương hiệu trên mạng xã hội, sự trung thành và tần suất ưu tiên mua hàng dành cho thương hiệu đó sẽ tăng 20%, theo Econsultancy. Sự liên kết này khăng khít đến mức việc ngừng kết nối (un-like, un-follow) một thương hiệu là dấu hiệu đầu tiên của khả năng chuyển sang sử dụng các thương hiệu khác. Nên mỗi khi có một người tiêu dùng unlike trang Fanpage của thương hiệu thì bộ phận marketing của thương hiệu đó chắc hẳn sẽ rất đau đầu.

Mang mạng xã hội vào mô hình kinh doanh


Ngày nay, các quý cô thường lên Facebook khoe những bộ cánh mới để được tôn vinh. Và nhãn hàng thời trang C&A đã nhìn ra một tiềm năng từ điều này: liệu có cách nào cho phụ nữ cảm nhận được sự tôn vinh của những món đồ họ chưa mua không? Thử nghĩ xem, một khi biết chắc rằng sẽ có rất nhiều người khen chiếc áo này, bạn có ngần ngại bỏ tiền ra mua không?

Với suy nghĩ như vậy, C&A đã thực hiện một cuộc cách mạng trong ngành bán lẻ thời trang: tải tất cả những mẫu quần áo lên facebook và mỗi mẫu đều có một mã code cho phép toàn bộ hệ thống bán lẻ cập nhật liên tục rằng có bao nhiêu người like sản phẩm ấy trên Facebook.

Nếu một quý cô đang cân nhắc giữa hai mẫu váy, C&A giúp cô ấy tham khảo một yếu tố cuối cùng nhưng vô cùng mạnh mẽ: thị hiếu của xã hội. Xem nào, mẫu A có 1.000 lượt like còn mẫu B có 15.000 lượt like. Vậy thì việc mua quần áo sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Lần đầu tiên C&A áp dụng hình thức này khi giới thiệu bộ sưu tập thu-đông năm 2011 và kết quả là bộ sưu tập được bán sạch chỉ sau 48 tiếng.

Homeplus, thương hiệu bán lẻ tại Hàn quốc của chuỗi bán lẻ Tesco, cũng áp dụng cách tương tự. Homeplus phát hiện ra rằng tại Hàn Quốc, việc đi siêu thị mua hàng gia dụng hằng tuần là quá tốn thời gian. Vì vậy Homeplus đã đưa ra một quyết định táo bạo: mang siêu thị đến với smartphone của bạn.

Homeplus đã khảo sát trên các trang xã hội của mình về những mặt hàng thường được mua nhiều nhất, sau đó họ in những biển quảng cáo có hình ảnh thật của các sản phẩm đó và cho dán tại các ga tàu điện ngầm.
Người tiêu dùng có thể dùng smartphone để mua hàng ngay trong lúc chờ tàu điện ngầm và Homeplus sẽ giao hàng đến tận nhà. Cuộc cách mạng “mang siêu thị đến với người tiêu dùng” này đã tạo ra hiệu quả ấn tượng: doanh số bán hàng trực tuyến của Homeplus tăng 125% và lượng người mua sắm tăng hơn 80%.

Và cũng không thể không nhắc đến Google Glass. Với Google Glass, tất cả những gì cập nhật nhất sẽ nằm trong tầm mắt và bạn có thể chia sẻ ngay lập tức với mọi người những gì bạn đang nghe, đang thấy. Chắc hẳn Google Glass sẽ làm “bạn có thấy những gì tôi đang thấy không?” hiện thực hơn là một câu ví von.

Khi trào lưu xã hội hóa mở rộng và gần như mọi thông tin đều có thể được chia sẻ thì lại có một làn sóng dư luận về quyền riêng tư. Nhưng Dimitri Maex, phụ trách toàn cầu mảng Quảng cáo tương tác của tập đoàn quảng cáo Ogilvy, cho rằng người tiêu dùng sẵn sàng chia sẻ thông tin cá nhân để đổi lấy quyền lợi. Vì vậy, các mạng xã hội đã và đang mở ra cơ hội rất lớn để cho các thương hiệu kết nối chặt chẽ và sâu sắc hơn với người tiêu dùng.

“Chúng ta không cần phải khơi gợi ra những nhu cầu mới, mà phải phát minh ra cách thỏa mãn thông minh hơn những nhu cầu hiện có. Và đó là vai trò của công nghệ để làm xã hội hóa sự tiêu dùng”, Maex kết luận.

(Nguồn: Nhịp cầu Đầu tư)

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013

Kinh nghiệm làm ăn với Trung Quốc

Không ít lần các doanh nghiệp Việt Nam dính “quả đắng” vì quá tin đối tác Trung Quốc.
 


Mất ít và mất trắng

Doanh nghiệp Hiệp Phát là một doanh nghiệp chuyên kinh doanh bạc đạn (ball bearing, một bộ phận kỹ thuật), có cả gần chục năm kinh nghiệm nhập khẩu. Sau này, lãnh đạo công ty quyết định chuyển hướng nhập hàng Trung Quốc thay vì hàng Nhật do giá rẻ hơn, mẫu mã đa dạng mà các tính năng cũng tương đương.

Công ty đặt mua bạc đạn của một công ty khá uy tín ở Quảng Đông. Những chuyến hàng đầu tiên mọi thứ đều đúng phẩm cách, chất lượng. Đến chuyến hàng thứ năm, hàng nhận được là hàng loại thải, lỗi quy cách. Đáng nói hơn là khi hàng về đến kho, doanh nghiệp kiểm kê mới phát hiện ra lỗi.

Phía Trung Quốc biết rằng, đối với mã hàng bạc đạn, hải quan chỉ kiểm 5% số lượng, nên họ đã để đúng những mã hàng theo danh mục ngay cửa container. Hải quan chỉ kiểm tra mẫu đại diện, đối chiếu thấy đúng là cho doanh nghiệp thông quan.

Tổng thiệt hại lô hàng lỗi này là cả tỷ đồng. Khi trao đổi với đối tác qua điện thoại, doanh nghiệp phía Trung Quốc thừa nhận, họ đã chuyển hàng thải, mong được thông cảm, rồi sẽ trừ dần tiền bồi thường vào những lô hàng sau. Kiện tụng ra tòa thì vừa tốn kém (rào cản ngôn ngữ, tiền thuê luật sư…), lại không biết khi nào đòi được tiền, còn không nhập hàng thì mất toàn bộ mối lợi và tiền bồi thường nên Hiệp Phát buộc phải đồng ý với giải pháp mà bên đối tác đưa ra.

Trường hợp “trục trặc” của Công ty Cổ phần Thương mại Mê Kông cũng là do lỗi cố ý của đối tác Trung Quốc. Mê Kông nhập ba container giấy với trị giá gần 100.000 USD, nhưng khi rút hàng từ ngoài cảng, doanh nghiệp phát hiện có 2 cuộn giấy bị thấm nước để ở cuối container. Khi hãng tàu, giám định xuống kiểm tra, không phát hiện lỗi từ quá trình vận chuyển nên kết luận do phía xuất khẩu cố tình đưa hàng không đúng chất lượng.

Dù đã mua bảo hiểm lô hàng, nhưng công ty bảo hiểm từ chối bồi thường do lỗi từ phía xuất khẩu và một phần khác là do Công ty Mê Kông chỉ mua phí bảo hiểm rủi ro cho quá trình vận chuyển, chứ không phải cho toàn bộ rủi ro.

Các thiệt hại trên là theo từng lô hàng, vẫn còn “nhẹ” so với doanh nghiệp Phương Đông, một công ty vốn hoạt động trong lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng và là nhà phân phối độc quyền cho một doanh nghiệp Trung Quốc. Phương Đông được hỗ trợ từ phía đối tác để xây dựng hệ thống phân phối, bán hàng.

Sau nhiều năm hoạt động, gây dựng tốt hệ thống phân phối, phía đối tác Trung Quốc bèn nhảy vào trực tiếp kinh doanh cùng mặt hàng và cắt luôn nguồn hàng bán cho Công ty Phương Đông, nẫng toàn bộ công lao do Phương Đông gây dựng. Cú “ra đòn” này khiến Phương Đông buộc phải chuyển sang lĩnh vực kinh doanh mới và bỏ lại toàn bộ thị trường cho doanh nghiệp Trung Quốc chi phối.

Phòng hơn chữa


Mặc dù kinh doanh buôn bán với đối tác Trung Quốc gặp nhiều rủi ro, nhưng các doanh nghiệp nhìn nhận khó bỏ được hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vì giá rẻ, mẫu mã đa dạng và lợi nhuận tốt.

Để loại trừ rủi ro, ông Lương Văn Thành, Giám đốc Công ty Hiệp Phát cho biết, sau sự cố trên, công ty vẫn tiếp tục nhập hàng từ doanh nghiệp cũ, nhưng ràng buộc họ bằng cách trả chậm qua L/C, sau 7 ngày kể từ khi hàng về mới chuyển tiền, cùng các điều khoản hợp đồng ràng buộc chặt chẽ hơn, chẳng hạn, tăng hạn mức phạt nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ…

Nhờ thế mà phía Trung Quốc không thể “giở trò” một lần nữa do sợ mất tiền. Hiệp Phát cũng chấp nhận tốn chi phí để cử người qua Trung Quốc giám sát quá trình đóng gói hàng từ trong kho doanh nghiệp cho đến khi giao qua mạn tàu.

Tương tự, ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng giám đốc Công ty Vinamit, người có nhiều kinh nghiệm tại thị trường Trung Quốc khuyến nghị: để xem xét mức độ tin cậy của đối tác từ năng lực tài chính, tư cách pháp nhân, doanh nghiệp Việt Nam nên yêu cầu họ cho xem giấy phép kinh doanh.

Cũng không nên tin hoàn toàn vào những giấy tờ họ đưa ra mà phải tìm hiểu thêm bằng việc hỏi các doanh nghiệp trong ngành hoặc Thương vụ, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc. Trước khi ký kết hợp đồng thương mại, doanh nghiệp Việt Nam nên trực tiếp thẩm định văn phòng, hệ thống nhà xưởng, kho tàng, hệ thống phân phối của đối tác.

Thực ra, đã có nhiều doanh nghiệp làm như vậy, nhưng vẫn bị dính “quả đắng” do phía doanh nghiệp Trung Quốc thuê mướn văn phòng, cơ sở vật chất, kho tàng để “làm mặt” với doanh nghiệp Việt Nam hoặc cố tình qua mặt doanh nghiệp sau vài chuyến hàng. Do vậy, các doanh nghiệp Việt vẫn phải vừa làm vừa giám sát hoặc chọn phương thức thanh toán hợp lý để chủ động xử lý trong trường hợp đối tác giao hàng không đúng cam kết.

(Nguồn: Doanh Nhân)

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013

Những tỷ phú Việt trên đất Mỹ

Sau sự kiện tỷ phú Chính E. Chu điều hành quĩ Blackstone mua lại hãng Dell. Chúng tôi xin giới thiệu thêm một số gương mặt tỷ phú gốc Việt trên đất Mỹ.



Đoàn Trí Trung - "Ngôi sao đang lên" của chip LED
Được mệnh danh là “ngôi sao đang lên” của lĩnh vực chip LED (chíp điot bán dẫn trong công nghệ thông tin), kỹ sư gốc Việt Đoàn Trí Trung là một trong những người sáng lập công ty Semiled (bang Idaho, Mỹ).
Ông cũng là chủ hoặc đồng chủ sở hữu 250 bằng sáng chế có giá trị trong lĩnh vực kỹ thuật điện tử tại Mỹ.
Công ty chuyên về thiết bị bán dẫn của ông Trung đã phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO) năm 2010 và được dự báo sẽ dẫn đầu thị trường chip LED.
Công ty của doanh nhân này, ngoài trụ sở ở Mỹ, còn có thêm 2 nhà máy tại Trung Quốc và Đài Loan.
tỷ phú Việt, Mỹ, ngả mũ

Charlie Tôn Quý - "Vua" nails tại Mỹ
Doanh thu mỗi năm của toàn hệ thống Regal Nails lên tới 450 triệu USD nếu tính trung bình mỗi tháng là 34.000 USD/tiệm. Ông chủ của chuỗi tiệm chăm sóc móng “hái ra tiền” tại Mỹ nói trên là Charlie Tôn Quý - một nhân vật với mái tóc dài bồng bềnh như nghệ sĩ, đã từng xuất hiện trên trang web cá nhân của chuyên gia Alan Phan.
Doanh nhân gốc Việt nổi danh trên đất Mỹ
Charlie Tôn Quý cũng là người đàm phán được với “người khổng lồ” WalMart của Mỹ để được đặt tiệm nails của mình trong siêu thị, sau 2 năm thuyết phục tập đoàn này. Hơn 1.100 tiệm nails trải dài trên đất Mỹ của doanh nhân này là một con số không nhỏ và với mức doanh thu lên tới nửa tỷ USD mỗi năm chỉ với công việc chăm sóc, sơn sửa móng tay, móng chân.
Ông Alan Phan - một trong những chuyên gia với phát ngôn gây chú ý của dư luận đánh giá, nếu Regal Nails niêm yết trên sàn chứng khoán, thì cổ phiếu của hãng này sẽ là một trong những bluechip “hot” nhất vì con số doanh thu ấn tượng cũng như yếu tố an toàn là không có nợ.
tỷ phú Việt, Mỹ, ngả mũ

Bill Nguyễn - Người có duyên bán hàng cho Apple
Khởi nghiệp từ nghề phụ bán xe hơi cũ tại Mỹ, Bill Nguyễn - doanh nhân được Forbes vinh danh là một trong 40 người dưới 40 tuổi giàu nhất nước Mỹ và tập đoàn truyền thông MSNBC bầu chọn “có khả năng thay đổi bộ mặt công nghệ thông tin toàn cầu” - đã thành lập liên tiếp 7 công ty tính đến thời điểm hiện tại.
Năm 1999, với thương vụ bán lại công ty Onebook giá 850 triệu USD, Bill Nguyễn là cái tên được chú ý. Ông cũng là chủ nhân của một ứng dụng trực tuyến mang tên Lala.com được Apple mua lại với giá hơn 80 triệu USD vào năm 2009, sau đó Apple tích hợp ứng dụng này vào iTunes cho sản phẩm của mình.
Năm ngoái, Apple cũng đã chi ra vài chục triệu USD để mua lại ứng dụng chia sẻ hình ảnh do Bill Nguyễn phát triển. Hiện tại, doanh nhân này đang phát triển công ty Seven Networks chuyên cung cấp dịch vụ ứng dụng và nội dung cho nhà mạng.
tỷ phú Việt, Mỹ, ngả mũ

Ông chủ khách sạn Trần Đình Trường
Khối tài sản trên 1 tỷ USD khiến cho Trần Đình Trường – ông chủ nhiều khách sạn tại New York (Mỹ) được biết đến như là một trong những doanh nhân gốc Việt giàu có nhất. Ông Trường sinh năm 1932 quê ở Hà Tĩnh, là ông chủ hãng vận tải đường biển Vishipco trong những năm trước 1975 tại TP.HCM. Từ năm 1975, ông sang Mỹ và kinh doanh khách sạn tại New York, Manhattan.
Năm 1984, ông bỏ tiền mua 2 máy bay trực thăng khoảng 3,2 triệu USD cho các tổ chức cứu trợ nạn đói tại Ethiopea. Đây cũng là doanh nhân đã tài trợ 2 triệu USD khi Mỹ gặp sự kiện khủng bố hôm 11/9/2001 sau đó được Liên hiệp người Mỹ gốc Á vinh danh năm 2003 vì hành động này.
Trần Đình Trường đã từ trần vào tháng 5/2012 tại Mỹ, song gia đình ông vẫn đang phát triển sự nghiệp do doanh nhân này gây dựng với việc kinh doanh, cho thuê khách sạn tại Mỹ.
tỷ phú Việt, Mỹ, ngả mũ

Triệu Như Phát: Tỉ phú từ BĐS
Sinh ra tại Hải Phòng, năm 7 tuổi, ông theo gia đình vào Sài Gòn. Lớn lên trong gia đình có đến 10 anh chị em, ông phải vất vả lắm mới tốt nghiệp đại học ngành văn và ngoại ngữ. Sau đó, ông làm công việc xúc tiến kinh doanh cho một công ty tại Sài Gòn rồi làm thông dịch viên.
Năm 1975, ông cùng vợ sang Mỹ định cư. Nhờ vào vốn tiếng Anh nên ông dễ dàng tìm được công việc bán máy hút bụi tại California. Thế nhưng, với đam mê làm giàu sẵn có, ông quyết tâm khởi sự kinh doanh cho riêng mình.
Khi đó, chàng trai trẻ Triệu Như Phát không vội vã làm giàu mà muốn có trước hết một nền tảng kiến thức vững chắc. Vì thế, ông chấp nhận làm công việc bảo vệ để đi học thêm.

Năm 1978, ông Triệu Như Phát chính thức khởi sự kinh doanh ngành bất động sản tại California khi thành lập Công ty Bridgecreek. Dồn hết tâm huyết vào đây, suốt 10 năm trời gần như tuần nào ông cũng làm việc 7 ngày với hơn 16 tiếng đồng hồ mỗi ngày.
Từ khi thành lập đến nay, Bridgecreek đã đầu tư các dự án bất động sản với tổng trị giá lên đến 400 triệu USD. Trong đó, có Khu thương mại Phước Lộc Thọ (còn mang tên tiếng Anh là Asian Garden Mall) đóng vai trò trung tâm thương mại quan trọng của người châu Á tại Mỹ.
Vào năm 2002, Tổng thống Mỹ khi đó là ông George Bush chỉ định doanh nhân Triệu Như Phát vào Ban giám đốc Quỹ giáo dục Việt Nam (VEF). Đây là một quỹ trực thuộc Nhà Trắng chuyên hỗ trợ trao đổi giáo dục Việt - Mỹ, từng cấp học bổng cho hàng trăm trí thức Việt Nam sang Mỹ để tu nghiệp, học thạc sĩ và nghiên cứu sinh tiến sĩ. Sau đó, ông trở thành Giám đốc của VEF.
tỷ phú Việt, Mỹ, ngả mũ


Tỉ phú công nghệ Trung Dung

Đến Mỹ vào năm 1984 với số tiền vỏn vẹn 2 USD trong túi cùng vốn tiếng Anh ít ỏi, chàng thanh niên Trung Dung 17 tuổi bắt đầu ra sức làm thêm để đi học.
Trung Dung vừa làm việc hằng đêm tại một nhà hàng và gác cổng ở một bệnh viện vào cuối tuần nhưng cũng chỉ kiếm được 350 USD mỗi tháng. Thế nhưng, trong 3 năm ông không chỉ nhận bằng cử nhân toán và máy tính của Đại học Massachusetts, mà còn hoàn thành 90% chương trình thạc sĩ khoa học máy tính.
Sau đó, ông nhận học bổng nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Boston. Hoàn thành chương trình tiến sĩ, ông bắt đầu theo đuổi sự nghiệp theo đúng chuyên môn sẵn có và làm việc tại Công ty phần mềm thương mại điện tử OpenMarket.
tỷ phú Việt, Mỹ, ngả mũ

Sau vài năm làm việc, ông rời khỏi công ty này và chấp nhận từ bỏ lợi ích khoảng 1 triệu USD nhờ quyền chọn mua cổ phiếu. Tuy nhiên, Trung Dung lại sở hữu những nền tảng vững chắc để thành lập Công ty phần mềm OnDisplay chuyên cung cấp các ứng dụng trực tuyến cho doanh nghiệp vào năm 1996.
Vượt qua vô số khó khăn, OnDisplay từng bước lớn mạnh và trở thành một trong số ít các công ty thành công lớn khi lần đầu tiên phát hành cổ phiếu ra thị trường vào năm 1999. Không chỉ thu về nhiều triệu USD, OnDisplay còn là công ty tiên phong cho làn sóng những doanh nghiệp của các ông chủ gốc Á trỗi dậy trong ngành internet Mỹ.
Đến năm 2000, Trung Dung chính thức trở thành tỉ phú bằng việc thu về 1,8 tỉ USD nhờ vào thương vụ bán cổ phần của ông trong OnDisplay cho Vignette Corporation (nay là OpenText). Nhờ đó, ông trở thành một điển hình trong cuốn sách Giấc mơ Mỹ của tác giả Dan Rather.
PV
(Sưu tầm)