Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

Kinh doanh nhỏ không trụ nổi trong thời buổi khó khăn

Bán giá hời, chấp nhận lỗ
Thời gian gần đây, tại một các tuyến phố trên địa bàn Hà Nội cũng như các trang rao vặt xuất hiện ngập tràn các biển thông báo cần sang nhượng shop thời trang, cửa hàng mỹ phẩm, linh kiện điện tử... với giá rẻ để thu hồi vốn.

Tuy nhiên, khi tiến hành sang nhượng chủ cửa hàng thường chịu thiệt. Có người còn chấp nhập sang nhượng với số tiền chỉ bằng nửa số vốn mình bỏ ra bởi thị trường đang rơi vào chu kỳ ế ẩm, đói khách.

Chị Kim Nhung, chủ một shop thời trang trên phố Đội Cấn (Ba Đình) vừa sang nhượng toàn bộ shop quần áo thời trang với giá 160 triệu đồng cho biết: "Lúc mở  shop quần áo thời trang này, tiền thuê cửa hàng, tiền mua sắm, trang trí nội thất, tiền hàng hóa... tính ra cũng hết khoảng trên 250 triệu đồng. Giờ chấp nhận nhượng lại cho người khác với giá 160 triệu đồng bao gồm toàn bộ quần áo, nội thất rồi tiền thuê mặt bằng còn gần 4 tháng trên hợp đồng, tính ra mình lỗ gần 100 triệu".

"Chuyển nhượng vào thời điểm này, dân kinh doanh hầu như phải chịu thua lỗ chứ đừng nói tới chuyện hòa vốn. Song, nếu cố giữ lại với tình trạng buôn bán ế ẩm kiểu này, doanh thu thì âm liên tiếp, để lâu có khi còn lỗ nặng hơn bởi mình vẫn phải mất tiền thuê nhà hàng tháng, tiền thuê nhân viên bán hàng... ", chị Nhung tâm sự.



Cùng cảnh, anh Vinh, chủ một shop thời trang nam - nữ trên phố Nguyễn Lương Bằng (Đống Đa, Hà Nội) cũng đang tìm người để sang nhượng toàn bộ shop với giá 180 triệu đồng.

Anh cho biết, đầu tư sửa chữa cửa hàng, mua mới toàn bộ nội thất, quần áo thời trang nam, nữ mẫu mã đẹp, hợp đồng nhà còn tới 8 tháng đã đóng đầy đủ (tiền thuê 11 triệu đồng/tháng) mà nhượng lại toàn bộ cho người khác với giá này thì quá bèo.

Tuy nhiên, do phải chuyển công tác đi xa, không có người quản lý cộng với tình trạng đói khách trầm trọng gần đây, doanh số bán hàng ì ạch giữa mùa hè nên anh mới phải bỏ ngang, chịu lỗ - anh Vinh chia sẻ.

Nhiều chủ cửa hàng kinh doanh khi được hỏi đều khẳng định buôn bán ế ẩm, không có lãi thì chịu lỗ để sang nhượng lại cửa hàng là điều hoàn toàn dễ hiểu, bởi nếu cố giữ lại mà thị trường không có dấu hiệu thay đổi còn lỗ nhiều hơn.

Chị Nhung chia sẻ: "Mở cửa hàng có sẵn vốn trong tay như chị còn bị ảnh hưởng nặng nề và phải tháo chạy, nữa là với những người eo hẹp vốn, phải vay mượn với lãi suất cao thì nguy. Thị trường giờ ế ẩm, tiền lời không đủ chi trả tiền cho lương nhân viên, trong khi tiền thuê nhà, tiền lãi suất vay hàng tháng vẫn phải gánh. Vì thế khi sang nhượng, họ có thể chấp nhận lỗ một nửa, thậm chí còn cao hơn để nhanh chóng thu hồi số vốn còn lại về, đề phòng mất trắng".

Mặt bằng cho thuê cũng ế ẩm

Dân kinh doanh ồ ạt tháo chạy khỏi thị trường khiến giá mặt bằng cho thuê thời gian này mặc dù đã hạ nhiệt nhưng vẫn rơi vào tình trạng ế ẩm.

Dạo qua các con phố ở Hà Nội như: Cầu Giấy, Nguyễn Hoàng Tôn, Bưởi, Đê La Thành... thời gian gần đây, xuất hiện nhiều cửa hàng treo biển thanh lý toàn bộ hàng hóa để trả mặt bằng. Kéo theo đó là biển cho thuê mặt bằng làm cửa hàng kinh doanh, rồi sang nhượng cửa hàng cũng xuất hiện nhiều hơn trên khắp các tuyến phố lớn, nhỏ.



Trên tuyến đường Nguyễn Hoàng Tôn (Tây Hồ, Hà Nội) vài tháng lại đây xuất hiện nhan nhản biển hiệu thông báo cho thuê mặt bằng làm cửa hàng kinh doanh, cho thuê cửa hàng...

Bác Nguyễn Việt Khương đang treo biển cho thuê mặt bằng làm cửa hàng trên tuyến đường này chia sẻ chia sẻ: "Kinh tế khó khăn, thị trường hàng hóa cái gì cũng ế ẩm, dân kinh doanh nhỏ lẻ không trụ được nên thi nhau trả cửa hàng rồi bỏ về quê".

Bác Việt Khương kể: Nhớ lại những năm trước, thời kỳ dễ buôn dễ bán, nhiều người ở ngoại tỉnh muốn đầu tư kinh doanh phải tìm đủ mọi cách để thuê được mặt bằng bán hàng, có khi còn phải nhờ đến mấy anh "cò" xe ôm, quán nước dắt mối. Nay thì ê hề, đi hết con đường này cũng phải có đến mất chục biển hiệu cho thuê cửa hàng chứ chẳng ít.

Tương tự, anh Lê Văn Thực ở ngõ 123 Xuân Thủy (Cầu Giấy, Hà Nội) có cửa hàng cho thuê trên đường Nguyễn Hoàng Tôn cũng ngán ngẩm chia sẻ: "Trước tôi cho một khách quê ở Phúc Thọ (Hà Nội) thuê làm cửa hàng buôn bán vật liệu xây dựng, giá 12 triệu đồng/tháng, 6 tháng đóng tiền một lần. Tuy nhiên, giờ kinh doanh ế ẩm, họ trả cửa hàng, mình phải treo biển cho thuê. Đã giảm giá xuống chỉ còn 9 triệu đồng/tháng, đóng tiền thuê 3 tháng một ấy vậy mà  đã gần hơn 3 tháng nay mà vẫn chưa tìm được khách thuê".

Thời gian đầu, khi mới treo biển, thỉnh thoảng còn có người gọi điện hỏi anh giá cả rồi hợp đồng thuê như thế nào, nhưng cuối cùng anh đều nhận được câu trả lời "cần suy nghĩ thêm và sẽ liên lạc lại sau" của khách. Giờ hiếm lắm mới có người gọi điện hỏi thuê nhưng cũng đều bặt tăm - anh Thực cho biết thêm.

"Dạo này, nhiều nơi dân kinh doanh thi nhau trưng biển khuyến mãi, giảm giá, thanh lý toàn bộ hàng hóa để trả mặt bằng để câu khách, cố cầm cự cho hết hợp đồng thuê. Người nào không thể cầm cự nữa phải sang nhượng với giá rẻ rồi chịu lỗ mong thoát khỏi thị trường càng nhanh càng tốt", anh Hồng Quân - chủ shop đầm bầu trên phố Thợ Nhuộm (Hoàn Kiếm, Hà Nội) cho hay.

Bài, ảnh: Bảo Hân
(Theo Vietnamnet)

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Bạn trẻ Việt Nam xem trọng hạnh phúc hơn tiền?

Đây là kết luận từ cuộc nghiên cứu 1.400 người, tuổi từ 18 đến 35 tại Việt Nam, do một tập đoàn truyền thông quốc tế thực hiện tại 9 nước châu Á.
Bản báo cáo của Tập đoàn truyền thông quảng cáo quốc tế Y&R cho biết, có 73% đối tượng nghiên cứu cho rằng hạnh phúc quan trọng hơn tiền bạc. Ngoài ra, họ là những người có niềm tin mãnh liệt rằng dù mọi thứ xung quanh không ngừng thay đổi, những giá trị gia đình vẫn luôn được duy trì.

Bên cạnh đó, thế hệ trẻ Việt Nam cũng cho biết có nhiều tham vọng chinh phục những điều lớn lao, và số khác tỏ ra lạc quan vào một tương lai giàu có sung túc.

Dù tin rằng cuộc sống sau này sẽ sung túc, nhưng giới trẻ Việt Nam vẫn xem hạnh phúc quan trọng hơn tiền bạc. Ảnh: my.opera.

Ông Matthew Collier, Giám đốc điều hành Công ty Y&R Việt Nam cho biết, mặc dù cuộc sống không ngừng thay đổi, nhưng giá trị gia đình vẫn được duy trì và hạnh phúc đối với họ là quan trọng hơn chuyện tích góp làm giàu.

Ông cũng nói thêm, việc nghiên cứu về thế hệ trẻ Á châu này sẽ đưa ra bằng chứng xác thực về cách cảm nhận và khát vọng của phân khúc nhân khẩu học từ 18 đến 35 tuổi. Từ đó, nó giúp các công ty kết nối thương hiệu và người tiêu dùng một cách sâu sắc hơn.

Ông Hari Ramanathan, người trực tiếp thực hiện khảo sát, cũng cho biết Y&R thực hiện nghiên cứu về thế hệ trẻ châu Á để mọi người hiểu rõ hơn giới trẻ đang muốn gì.

Việt Nam là thị trường đầu tiên mà công ty này công bố kết quả, trong số 9 nước dự định nghiên cứu. Cuộc khảo sát được thực hiện trực tuyến trong tháng 6/2012.

Lệ Chi

Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2012

Một người cha hoàn hảo

Ngàn xưa, người ta đã hiểu, “thượng bất chính hạ tắc loạn”. Ngày nay, các bậc phụ mẫu của dân hay ngạc nhiên khi con cái và thần dân của mình ích kỷ, lười biếng, tham lam và lừa lọc nhiều quá. Có lẽ suốt ngày họ rao giảng, truyền đạo liên miên nên không có thì giờ nhìn lại “hành động” của mình? 
Chị Kim Yến của báo Saigon Tiếp Thị nhờ tôi viết một bài về “Người Cha Lý Tưởng” nhân ngày Fathers’ Day của Mỹ.

Tôi công nhận là tôi có 2 khả năng và kinh nghiệm hơn nhiều người: một là kiếm tiền và mất tiền một cách lương thiện và hai là chém gió giúp vui cho đời qua các bài viết trên blog khi không ngủ được. Tôi không hiểu tại sao các mạng truyền thông lại muốn nghe tôi nói về những đề tài mà tôi rất dở và thua nhiều hơn thắng: về mẫu người tình lý tưởng, về người chồng hay vợ lý tưởng, về người cha hay con lý tưởng, về người thầy hay trò lý tưởng…


Trước hết xin nói rõ 2 điều: tôi không phải là một chuyên gia về đề tài này và tôi không nghĩ cá nhân tôi là một người cha lý tưởng. Thực ra, “lý tưởng” thời nay rất gần với ảo tưởng. Với những đòi hỏi hàng ngày của cơm áo gạo tiền, rồi áp lực về công việc từ mọi phía, cộng them một môi trường rất bất ổn cho liên hệ gia đình, sức khỏe và tương lai, khi một người cha bỏ thì giờ để suy nghĩ về “vai trò lý tưởng” của mình, đây cũng đã là một hành xử xa xỉ.

Tôi vẫn nói một con người lý tưởng phải hội đủ 6 khía cạnh: sức khỏe, tinh thần, trí tuệ, tâm linh, xã hội và tài chánh. Tôi cũng nói là khi mỗi con người trong chúng ta đạt được tiến bộ mỗi ngày trong cả 6 lĩnh vực so với ngày hôm trước thì chúng ta đã có một ngày thành công. Nhiều ngày thành nhiều tháng, rồi nhiều năm…và trở thành một thói quen. Thói quen tiến bộ cấu trúc nên cá tính của một con người; và qua góc nhìn của tôi, đây là một người thành công.

Một con người thành công là nền tảng của một người cha, người chồng, người con hay một người mẹ, người vợ, người tình thành công.

Trên cả sự thành công là một tình yêu đúng nghĩa giữa các con người: một tình yêu cho đi mà không đòi hoàn trả, hay mong ước. Tình yêu giữa cha con phải vượt qua những đòi hỏi về tài sản, về quyền lực, về sĩ diện, ngay cả về trí tuệ. Nó phải thăng hoa thành một tình bạn cao quý, chân thật, cởi mở và tương kính. Khi con còn nhỏ, thì cha bảo vệ và giáo dục cho con. Khi cha già, thì con giúp đỡ và săn sóc cha. Khi con ra tranh đấu với đời, cha ngồi xuống kể cho con nghe những trải nghiệm, sai lầm, tư duy…để con làm hành lý và cùng con thảo luận những lựa chọn cho hành trình.

Giữa hai người bạn, không có phán đoán, chỉ trích, chê bai…mà chỉ có khuyến khích, nâng đỡ và chia sẻ. Đường đời thường nhiều gian truân, cha con không cần phải tạo nên thêm những gánh nặng, từ vật chất đến tinh thần, cho nhau; mà phải cố gắng làm một người bạn đời tốt nhất của nhau.

Và dĩ nhiên, khi con còn nhỏ hay bất cứ khi nào con cần, người cha phải đóng vai trò một nhà giáo. Theo tôi, người thầy hay giỏi nhất là người biết đưa ra một tấm gương cho đứa học trò qua các hành xử của cá nhân mình. Ngay từ bé, các em thường rất bén nhậy về những cảm nhận. Chúng sẽ bắt chước thật tự nhiên và trung thực những tấm gương sống qua cuộc đời của những người mà chúng cho là “đáng kính và đáng theo”. Do đó, con một ông giáo thường đam mê học hỏi; con một trọc phú thường biết làm ăn bằng nhiều cửa sau; con một anh du đãng cướp đường thường nối chí cha làm “sáu búa” hay “năm dao”.

Những lời giáo huấn và những khẩu hiệu hoành tráng thường không chút ảnh hưởng gì đến tư duy đứa bé. Tấm gương là tất cả.

Ngàn xưa, người ta đã hiểu, “thượng bất chính hạ tắc loạn”. Ngày nay, các bậc phụ mẫu của dân hay ngạc nhiên khi con cái và thần dân của mình ích kỷ, lười biếng, tham lam và lừa lọc nhiều quá. Có lẽ suốt ngày họ rao giảng, truyền đạo liên miên nên không có thì giờ nhìn lại “hành động” của mình?

T/S Alan Phan

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

Khai thác đồ bỏ đi để thu tiền tỉ

Từ những phụ phẩm trong nông nghiệp như bã mía, vỏ dứa (thơm), vỏ điều..., nhiều công ty đã tận dụng để xuất khẩu đem về hàng triệu USD.
Với hàng chục triệu tấn mỗi năm, theo các chuyên gia, những phụ phẩm trong nông nghiệp có thể đem về cho VN hàng tỉ USD mỗi năm nếu biết khai thác hiệu quả thay vì bỏ đi...

Phế phẩm trở thành nguyên liệu triệu đô

"Vỏ hạt điều không còn bị xem là thứ phế phẩm, mà đang trở thành nguyên liệu có giá trị. Công nghiệp chế biến dầu vỏ điều có thể mang lại hàng trăm triệu USD mỗi năm...", ông Trần Văn Phúc, Giám đốc công ty TNHH Phúc Dung, một trong hàng chục doanh nghiệp chế biến dầu vỏ điều tại Bình Phước, khẳng định.

Số liệu từ Hiệp hội điều VN (Vinacas) cũng cho biết, chỉ riêng trong năm 2011 vừa qua, các doanh nghiệp chế biến dầu vỏ điều đã sản xuất được khoảng 80.000 tấn, trong đó xuất khẩu hơn 60.000 tấn, thu về hơn 50 triệu USD.

Ông Nguyễn Thái Học, Chủ tịch Vinacas cho rằng, dầu vỏ điều và các sản phẩm chế biến sâu từ dầu vỏ điều là ngành sản xuất rất tiềm năng để phát triển trong tương lai, đây cũng là một hướng đi mới cho ngành điều trong tương lai bên cạnh sản phẩm chủ lực là xuất khẩu nhân điều.

Theo một số doanh nghiệp, công nghệ chế biến dầu từ vỏ điều không quá phức tạp, được phát triển trong nước với chi phí thấp, do đó đã thu hút được khá nhiều doanh nghiệp tham gia. Chỉ riêng tại địa bàn Bình Phước, theo Vinacas, hiện có khoảng 15 doanh nghiệp chế biến dầu vỏ điều, với công suất vào khoảng 100.000 tấn vỏ điều mỗi năm.


Công nhân băm nhỏ cuống dứa trước khi chế biến thành thức ăn chăn nuôi xuất khẩu tại Công ty TNHH Kim Nghĩa (TP.HCM)

Ông Lê Bông, giám đốc công ty TNHH Thiện Ân (Bình Phước) cho biết, nhu cầu tiêu thụ dầu vỏ hạt điều lớn, cung không đủ cầu nên đang xảy ra tình trạng tranh mua tranh bán giữa các doanh nghiệp sản xuất dầu vỏ hạt điều trên địa bàn. "Ðây là cao điểm của ngành sản xuất dầu vỏ hạt điều, nhưng do giá điều nhân thấp, các doanh nghiệp trữ hàng chờ giá tăng, nên nguồn cung vỏ điều không đáp ứng được nhu cầu" - ông Lê Bông giải thích.

Bã mía, vỏ cam... cũng "hái ra USD"

Khởi đầu với mặt hàng phụ phẩm duy nhất là bã mía, đến nay Công TNHH Kim Nghĩa (quận Tân Bình, TP.HCM) đã có thêm sản phẩm từ bã dứa, lá khoai mì, vỏ cam... Những lúc cao điểm, mỗi tháng công ty này xuất khẩu trên 30 container hàng phụ phẩm (24-26 tấn/container), với doanh thu hằng năm lên tới hàng chục triệu USD.

Khác với hình dung của chúng tôi, xưởng chế biến các phụ phẩm nông nghiệp của Công ty Kim Nghĩa tại Bến Lức (Long An) sạch sẽ và thơm mùi đường, mùi dứa. Ðây là nơi tập kết nguyên liệu bã mía, vỏ dứa, vỏ cam và nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp khác trước khi được chế biến, đóng gói và xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản.

Ông Nguyễn Văn Nghĩa, giám đốc Công ty Kim Nghĩa, cho biết người Nhật xem đây là thực phẩm chứ không phải thức ăn gia súc nên yêu cầu khắt khe về chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm. Chỉ cần lô hàng kiểm tra bị vi phạm các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm là họ trả hàng hoặc bắt bồi thường. "Trước khi xuất khẩu lô hàng nào, chúng tôi đều lấy mẫu gửi cho cơ quan phân tích của VN và Nhật Bản, chỉ khi đạt mới xuất đi" - ông Nghĩa nói.

Anh Trung, một đầu mối cung cấp bã mía đồng thời xuất khẩu bã mía tại Bình Dương, cho biết nhu cầu bã mía để chế biến thức ăn gia súc xuất khẩu hiện nay rất lớn, chỉ riêng cơ sở này mỗi ngày cung cấp hàng chục container bã mía lên men, ép bánh hoặc ép khối cho các nhà chế biến xuất khẩu. Ðể có đủ nguyên liệu, công ty phải mua bã mía của các nhà máy từ miền Nam đến miền Trung về sơ chế.

Có thể thu về hàng tỉ USD mỗi năm

Theo ông Nguyễn Văn Nghĩa, các đối tác Nhật Bản cho biết chỉ riêng nhập khẩu thức ăn cho bò sữa và bò thịt của Nhật Bản mỗi năm đã lên tới trên 10 tỉ USD. Trong khi doanh số xuất khẩu của các công ty VN xuất sang thị trường này chưa đạt 1%. "Nếu nâng được thị phần tại Nhật Bản từ dưới 1% hiện nay lên 10%, mỗi năm VN có thể thu về 1 tỉ USD từ tiền bán thức ăn cho bò sữa và bò thịt, chưa kể thị trường Hàn Quốc cũng có nhu cầu rất lớn về các mặt hàng này" - ông Nghĩa khẳng định.

Chẳng hạn, chỉ riêng bã mía, mỗi năm VN có thể cung cấp cho thị trường xuất khẩu hàng triệu tấn. Theo số liệu của Hiệp hội Mía đường VN, với khoảng 10 triệu tấn mía mỗi năm và tỉ lệ bã mía thu được sau khi ép mía từ 25-30%, tính ra có thể thu được 2,5-3 triệu tấn mía. Tuy nhiên, nguồn bã mía này hiện đang sử dụng không hiệu quả, phần lớn được sử dụng làm phân hữu cơ, giá thể trồng nấm.

Một lãnh đạo của Công ty TNHH Kiều Loan, doanh nghiệp có quy mô hơn 20.000 tấn vỏ hạt điều mỗi năm tại Bình Phước, khẳng định thị trường tiêu thụ dầu vỏ hạt điều hiện rất tiềm năng. Tuy nhiên, do hầu hết các doanh nghiệp VN hiện nay chỉ mới dừng ở dạng sản xuất dầu thô rồi xuất khẩu nên giá trị sản phẩm này chưa cao. Trong khi đó, các nhà nhập khẩu Trung Quốc - thị trường tiêu thụ chủ lực dầu vỏ điều VN - đã sử dụng dầu vỏ điều để sản xuất những sản phẩm xuất khẩu có giá trị kinh tế cao hơn nhiều như sơn cao cấp, vật liệu kết dính, vật liệu cách điện, bố thắng xe máy...

Ngoài ra, VN còn là quốc gia có sản lượng trái cây lớn của khu vực Ðông Nam Á với nhiều loại quả có thể tận dụng phụ phẩm (cuống, vỏ) như cam, dứa, thanh long... Theo Hiệp hội Rau quả VN (Vinafruits), ngày càng có nhiều công ty trong nước tận dụng các loại phụ phẩm như vỏ, lõi, cuống... để chế biến thức ăn cho gia súc xuất khẩu. "Nhu cầu nhập khẩu những mặt hàng này rất lớn, nhưng VN vẫn chưa tận dụng tốt do sản xuất không tập trung và sử dụng nguồn nguyên liệu này còn lãng phí..." - ông Huỳnh Quang Ðấu, phó chủ tịch Vinafruits, nói.



Lá khoai mì, lá dứa tiếp tục hút hàng

Ông Trần Thanh Phú, giám đốc Công ty TNHH Tân Đông (Thủ Đức, TP.HCM), cho biết nhu cầu về lá khoai mì, lá dứa cũng như các loại lá thơm và đặc sản của VN vẫn tiếp tục được khách hàng tại châu Âu ưa chuộng. Hiện mỗi tháng công ty này xuất khẩu 5-6 container các loại lá, bánh và nông sản của VN sang thị trường EU.

Riêng lá khoai mì, mỗi năm Công ty Tân Đông xuất khẩu trên 100 tấn lá đã qua chế biến (tương đương 1.000 tấn lá tươi) nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ngoài ra, nhiều loại lá ít giá trị khác của VN như lá dứa, lá chuối, lá dong... cũng được Công ty Tân Đông sơ chế để xuất khẩu sang châu Âu. Năm 2011, chỉ riêng kim ngạch xuất khẩu các loại lá của Tân Đông đạt hơn 150.000 USD.

(Theo Tuổi trẻ)

Kiếm tiền từ wapsite cho di động

Không cần nhiều kiến thức về tin học, cũng chẳng cần vốn ban đầu, nhiều người vẫn có thể kiếm được hàng chục triệu đồng từ việc cung cấp nội dung trên web cho di động.
Lợi "khủng" từ game, ảnh động

Hình thức nhắn tin để download và sử dụng những tiện ích trên điện thoại di động như nhạc chuông, game mobile, hình nền, ảnh động,... từ lâu đã trở nên phổ biến. Chỉ cần soạn một tin nhắn với cú pháp đơn giản tới các tổng đài của các nhà mạng, người dùng điện thoại di động có thể sử dụng những dịch vụ mình yêu thích. Và đây cũng chính là mảnh đất màu mỡ mà những người làm wapsite (web cho mobile) tận dụng khai thác.

Việt Anh, chủ sở hữu một wapsite, cho rằng, kiếm tiền từ một wapsite không quá khó. "Nếu wap đã ổn định nội dung thì mỗi ngày chỉ cần chịu khó bỏ ra từ 1-2 tiếng để update nội dung cho trang, cập nhật những ứng dụng mới được yêu thích cùng một chút thủ thuật thì việc kiếm được 5-7 triệu/tháng là bình thường".

Để làm được điều này, trước hết phải tạo một wapsite và tải những ứng dụng của mình lên đó. Việc tạo wapsite cũng khá đơn giản và hoàn toàn miễn phí, bởi hiện có nhiều website hỗ trợ đắc lực trong việc xây dựng một trang cho di động như xtgem, wapego,... hay thậm chí cả blogger, wordpress... cũng có thể dễ dàng tùy chỉnh để trở thành một wapsite. Nội dung của các wap này khá đa dạng, nhưng chủ yếu tập trung vào game cho điện thoại di động và các ứng dụng hình nền, tranh ảnh động.



Một wapsite với các nội dung hấp dẫn để hút khách dùng di động (ảnh minh họa)

Sau khi tạo một wapsite có chứa nội dung, chủ sở hữu wapsite sẽ tìm tới một nhà cung cấp dịch vụ bán thông qua tổng đài. Có thể liệt kê khá nhiều trang cung cấp dịch vụ này như kichhoat.net, vda.vn, xalo - tinhvan, k2tek,... Sau khi đăng ký tại những trang web này, các ứng dụng trên trang web di động của bạn sẽ có thêm một mã để người tải muốn sử dụng bắt buộc phải nhắn tin qua tổng đài. Khoản tiền thu về từ tin nhắn sẽ được chia cho nhà mạng, nhà cung cấp dịch vụ và cuối cùng là chủ wapsite.


"Trung bình một tin nhắn 15.000 đồng sau khi "ăn chia" hết thì khoản tiền thực người chủ sở hữu của wapsite sẽ thu về là khoảng 3.800 đồng. Nếu làm nội dung tốt và biết cách quảng cáo thì mỗi ngày cũng thu về được 300.000-500.000 đồng. Cá biệt, một số trang có tiếng trong lĩnh vực này như coloa, waptai,... thu hút vài chục nghìn lượt người truy cập/ngày thì phải có doanh thu không dưới 50 triệu đồng/tháng", Việt Anh cho biết.

Cần có điểm nhấn, sự khác biệt

Xây dựng một wapsite đơn giản, không tốn kém nên không ít người, đặc biệt là các bạn sinh viên trẻ, cũng tập tành xây dựng cho mình một trang wap riêng. Tuy nhiên, làm là một chuyện, để trang wap có thể tồn tại và được nhiều người biết đến lại là cả một vấn đề. Điều này đòi hỏi chủ sở hữu cũng phải có tư duy nhạy bén và bỏ ra không ít công sức tìm hiểu về hình thức kinh doanh này, từ đó đưa ra những chiến lược cụ thể.

"Mình cũng đã từng làm một wapsite, đưa vào hoạt động được một thời gian thì bỏ đấy, không cập nhật nội dung nữa vì ít người truy cập quá, cũng chẳng có ai nhắn tin để tải ứng dụng về", Khang, sinh viên năm 3 Đại học Kỹ thuật công nghiệp, chia sẻ.

Các trang wapsite thông thường có thể tải các ứng dụng như game, nhạc chuông về từ các nguồn miễn phí khác rồi sau đó up lại trên wapsite của mình. Tuy nhiên, theo Phan, chủ sở hữu wapsite có doanh thu chục triệu/tháng thì những trang như vậy thường có doanh thu thấp và không tồn tại được lâu.

"Chiến lược ở đây là phải làm sao để thu hút được càng nhiều người ghé thăm trang của mình càng tốt, điều này đòi hỏi một trang wap phải có những nguồn cung cấp ứng dụng mới, hay, độc".

"Hầu hết các trang wap hiện nay đều có nội dung na ná nhau, không game thì ảnh động, nhạc chuông, hình nền,... Vì vậy, muốn hút khách cần phải tạo được điểm nhấn cho trang. Chỉ những dịch vụ hay, độc mới nên thu phí, còn lại thì nên để người dùng tải miễn phí. Làm như vậy để thu hút khách hàng và khiến họ muốn quay trở lại với mình lần nữa", Phan lưu ý.

Theo kinh nghiệm cá nhân của Phan thì game và ảnh "nóng" là những ứng dụng được người dùng tìm kiếm nhiều nhất.

Ngoài ra, Phan còn cho biết, bên cạnh việc liên tục cập nhật những ứng dụng mới lạ, một điều tối quan trọng nữa mà chủ sở hữu các wapsite phải biết đó là cách để trang của mình có nhiều người biết đến, sử dụng. Nói một cách đơn giản là phải làm sao để các công cụ tìm kiếm có thể tìm thấy trang của bạn chỉ sau một vài từ khóa nội dung đơn giản và kết quả phải được đặt ở trang đầu.

Để làm được điều này các chủ wapsite phải thực hiện nhiều cách như đặt những từ khóa sao cho được nhiều người tìm kiếm nhất, liên tục cập nhật nội dung mới cho wapsite của mình, liên kết với các trang khác hay spam trên nhiều diễn đàn khác nhau.

"Thứ hạng của trang trên các công cụ tìm kiếm như Google là hết sức quan trọng bởi chẳng có ai tự dưng biết đến trang của mình, nếu người dùng tìm kiếm "cả ngày không ra"; hay wap của mình lại có kết quả ở tận trang... 20 khi tìm kiếm đồng nghĩa với việc chẳng có ai biết đến nó", Phan nói.

Quốc Dũng

Thứ Tư, 18 tháng 7, 2012

Bob Diamond: công và tội trong giới tài chính

Diamond là đại gia không mấy xa lạ với giới ngân hàng, được mệnh danh là "cỗ máy in tiền" thời bão khủng hoảng.

Con người ông hội tụ những điểm khiến cả thế giới phải ghen tị và thậm chí nổi điên. Một ông chủ ngân hàng trọc phú, với mức độ giàu tăng lên hàng ngày, luôn "chai mặt" với dư luận về các vụ scandal rùm beng.

Bob Diamond ít khi lo sợ vì ông luôn biết tính toán, tinh ranh như cáo và chưa từng phải xin lỗi bất cứ ai, kể cả chính phủ về những vấn đề của giới ngân hàng. Có thể khẳng định Bob Diamond đã trở thành một hình mẫu kiếm tiền cực kỳ thành công, với những lý thuyết và bài học kinh nghiệm đắt giá.

Từng xuất hiện trước các nghị sĩ, Diamond tự tin nói chỉ có lòng ham muốn tột bậc mới chiến thắng, rằng cuộc chiến tài chính giữa chính phủ và các đại gia ngân hàng chẳng bao giờ có hồi kết. Ông cũng rất coi trọng văn hóa doanh nghiệp, luôn muốn tạo dựng lòng tin nơi khách hàng và tìm kiếm cơ hội đầu tư bằng mọi nỗ lực.

"CỖ MÁY IN TIỀN" VÀ NHỮNG THUYẾT GIẢNG VỀ CƠ HỘI LÀM GIÀU

"Cỗ máy in tiền" trên thị trường tài chính

Bob Diamond sinh ngày 27/7/1951 tại Concord, Massachusetts trong một gia đình có 9 anh chị em và cha mẹ đều là giáo viên.

Năm 1973, Diamond tốt nghiệp Trường Colby College với bằng cử nhân kinh tế loại ưu, và sau đó nhận bằng thạc sĩ tại Đại học Connecticut với số điểm cao nhất lớp.

Cơ duyên đầu tiên đưa Diamond tới lĩnh vực ngân hàng xuất hiện khi ông gia nhập Tập đoàn Morgan Stanley năm 1979 trong vai trò môi giới hợp đồng. 

Được chú ý bằng sự nhanh nhẹn và khôn khéo trong kinh doanh, Diamond quyết định về đầu quân cho Ngân hàng Barclays năm 1996, nhanh chóng trở thành Trưởng phòng đầu tư nắm trong tay Quỹ Barclays Capital với số vốn và lãi khổng lồ. Chính từ đây, Bob Diamond được coi là người nắm vận mệnh kiểm soát toàn bộ hệ thống ngân hàng tại Anh mỗi khi có biến động trên thị trường tiền tệ. Ông có kinh nghiệm tại các vị trí cao cấp thuộc nhiều ngân hàng lớn nhỏ, phải kể đến như CS First Boston hay Morgan Stanley International.

Diamond tạo nên cú đột phá cho Tập đoàn Barclays khi đạo diễn thương vụ mua đứt Ngân hàng Lehman Brothers năm 2008 với giá hời. Vụ thương thảo đã giúp cho Ngân hàng Barclays nhảy lên hàng đầu trong số các ngân hàng chuyên về đầu tư, hay theo danh từ của Diamond là "chuyển hóa quyền lực".
     
    Diamond tạo nên cú đột phá cho Tập đoàn Barclays khi đạo diễn thương vụ mua đứt Ngân hàng Lehman Brothers năm 2008 với giá hời (ảnh deseretnews)

    "Tôi nghĩ rằng không nên nhìn ngược lại thời gian và nói rằng chúng tôi đã mua được một món hàng "bở" với giá "bèo". Vào thời điểm đó, đa số dân trong nghề nói rằng chúng tôi quá "bạo". Tuy nhiên, nhờ thương vụ này mà Diamond leo được tới chức Giám đốc điều hành Barclays vào cuối năm 2008. Ông tạo nên những làn sóng "khái quát hóa" trong đế chế ngân hàng, thu hút ngày càng nhiều tiền về cho Barclays và luôn khẳng định làm ăn trong sáng, lành mạnh. "Chúng tôi có lỗi lầm, song điều quan trọng là chúng tôi phải học hỏi từ các lỗi lầm này và thay đổi cách làm việc. Trong tương lai, Barclays sẽ hoạt động với số lượng tiền tươi nhiều hơn, với số vốn vượt trội".

    Bob Diamond là ví dụ điển hình cho hàng loạt các ông chủ ngân hàng lớn có khả năng kiếm tiền và vượt xa mức độ giàu có của các danh thủ bóng đá nổi tiếng với những bản hợp đồng triệu bảng. Tháng 3/2012, dư luận chính thức biết mức lương cơ bản của Diamond - 17 triệu bảng, bao gồm lương, thưởng, cổ phần và hoa hồng... Sự làm ăn bứt phá đã nhanh chóng đưa tên tuổi Bob Diamond "nổi như cồn" với vị trí đầu tiên trong danh sách 100 tỉ phú kiếm tiền giỏi nhất ngành ngân hàng năm 2011. Người ta ước tính con số tài sản của Diamond có thể lên tới 105 triệu bảng để nhanh chóng tăng bậc trong danh sách những nhân vật tạo ảnh hưởng nhất thế giới.

    Trên thực tế, Bob Diamond vốn đã rất "đại gia" trước khi lên nắm quyền lãnh đạo Barclays. Báo cáo tài chính hàng năm của Barclays tiết lộ: Diamond từng cộng tác với một chi nhánh của Barclays với hợp đồng 10 triệu bảng, lại ăn thêm hoa hồng từ các hóa đơn chi tiêu không được công khai. Bob Diamond rất có ảnh hưởng đối với nhóm các nhà đầu tư toàn cầu của Barclays (BGI), và chính ông đã yêu cầu sáp nhập BGI với bộ phận quản lý tài sản của Barclays. Nhờ sự hậu thuẫn, và sau này là sự quản lý hoàn toàn của Diamond mà BGI được mở rộng, trở thành đầu não của Barclays.

    9 năm kinh nghiệm trên thương trường tài chính giúp Diamond nắm quyền lãnh đạo BGI vào tháng 8/2002. Từ những gì dư luận biết, không ai dám khẳng định chắc chắn về con số thu nhập thực sự của Diamond, hay các thương vụ kinh doanh mà ông tham gia. Năm đầu mới gia nhập BGI nhưng thu nhập của Diamond đã cao ngất ngưởng- 5,58 triệu bảng - và tăng lên 13,5 triệu năm 2004. Trong vòng 2 năm tiếp theo, Diamond thu về gấp đôi mức lương cũ, rồi gấp 3 và chưa hề có dấu hiệu "hạ nhiệt".

    Bob Diamond nổi tiếng về khả năng kiếm chác từ các thương vụ làm ăn của Barclays. Cho dù tài chính thế giới đang trải qua những thời kỳ khó khăn, nhưng Diamond vẫn ung dung thu tiền về túi. Trung bình mỗi lần "nhúng tay" vào việc giao dịch của ngân hàng, ông được trích hoa hồng 20 triệu bảng, chưa kể các khoản phí phát sinh bên ngoài. Nếu tính tổng cộng lương, thưởng, cổ phần và hoa hồng trong các vụ làm ăn, Diamond mỗi năm thu về 80 triệu bảng. Tuy nhiên con số này không bao giờ chính xác khi các thông tin cá nhân của ông đều được "trưng ra" một cách mù mờ. 


     
    Trụ sở ngân hàng Barclays

    Các giải thưởng cũng là chiêu bài tận thu tuyệt đối của Bob Diamond. Ông được khuyến khích bằng 16 triệu bảng năm 2005 trích từ quỹ của Barclays, và trung bình mỗi năm Diamond được hứa hẹn cầm chắc ít nhất 6 triệu bảng. Bob Diamond sẽ nhận được 6,5 triệu bảng cho những cống hiến của ông trong năm 2011. Ông cũng được nhận 2,25 triệu bảng Anh cổ phiếu theo chương trình ưu đãi dài hạn sẽ được trao quyền trong 3 năm.

    Chưa hết, tiền đang chảy về túi Diamond qua các kênh chuyển tiền từ đầu tư cho một nhóm doanh nghiệp tư nhân với mức thuế siêu thấp. Rõ ràng, ông chẳng cần phải nhận trợ cấp từ cha mẹ ở London, chỉ phải trả cực kỳ ít tiền thuế và không ngừng mở rộng đầu tư sang lĩnh vực khác. Điều này khiến dư luận nổi giận vì ông quá giàu.

    Năm 2008. Bob Diamond giới thiệu kế hoạch khuyến khích đầu tư dài hạn, tận dụng các cơ hội sẵn có để làm giàu. Ông cũng đề xuất kế hoạch bồi thường nhằm xây dựng một quỹ dự phòng cho những rủi ro hay biến động trên thị trường. Ông tăng cường tính minh bạch cho mọi báo cáo, công khai các dữ liệu chi tiêu hoặc lãi suất để trấn an nhân viên, xoa dịu dư luận vì độ "giàu nứt đố đổ vách" của ông.

    Con số đáng chú ý nhất dư luận biết được từ Bob Diamond là ông nhận được 20 triệu bảng sau khi bán BGI năm 2009 cho Tập đoàn BlackRock. Toàn bộ cổ phần của BGI bấy giờ được định giá xấp xỉ 27 triệu bảng, nhưng sau khi tính toán mọi chi phí làm ăn, Diamond chỉ phải trả chưa đầy 6 triệu, "tiết kiệm" được trên 2/3 giá gốc của BGI.

    Những thuyết giảng của "đại gia ngân hàng" về cách kiếm tiền

    Sau các thương vụ thành công, ông nhận được vô số lời mời chào với mức lương "khủng" từ phía các đối tác nhưng vẫn quyết định trụ lại Barclays. Diamond được đồng nghiệp kính trọng và nể phục vì nỗ lực đưa Barclays vượt lên khủng hoảng tài chính mà không hề nhận bất kỳ trợ giúp nào từ chính phủ. Ông cho rằng Ngân hàng Barclays sẽ ăn nên làm ra nếu không bị chính phủ kiểm soát và kìm hãm.

    Bob Diamond làm ăn giống như đánh cược bằng vận may đỏ đen của những lá bài. Có người gọi ông là hình mẫu lý tưởng của chủ ngân hàng thời hiện đại. Số khác lại ví Diamond như một cơn ác mộng, một cỗ máy sản xuất tiền đáng ghê sợ. Người ta nói ông kiếm tiền chẳng khác nào nhện giăng tơ ở mọi ngóc ngách; dường như ở đâu có tiềm năng đầu tư là ở đó có bóng dáng Bob Diamond. Hai thái cực đối chiều nhau về thành công của Diamond cho thấy sự căng thẳng và định kiến bấy lâu tồn tại trong dư luận về ngành ngân hàng và rủi ro nó mang lại.

    Trong khi các chủ ngân hàng liên tiếp bị chỉ trích vì sự tham lam kiếm chác và bỏ túi hàng chục triệu bảng trong khủng hoảng thì Diamond lại được khen ngợi khi tự đầu tư sinh lời. Người ta nói mọi động thái của ông đều thể hiện phong thái ung dung và kiên cường đến kỳ lạ, dập tắt mọi ồn ào dư luận về vai trò của các ngân hàng trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Chưa hết, năm 2012 nhưng Diamond đã bỏ túi trên 10 triệu bảng, trong khi đó mức lương cứng của ông chỉ "bèo bọt" 250.000 bảng!

    Bob Diamond khá khôn ngoan khi tận dụng tối đa mọi nguồn lực. BGI là chiến thuật tài chính và trung tâm điều khiển cỗ máy sản xuất tiền của Diamond. Chính ông đã đưa ra kế hoạch hoạt động và hướng đi cho toàn ngân hàng.

    Diamond cho phép được mua lại cổ phần với giá ưu đãi dành cho các giám đốc điều hành chi nhánh, mở ra cơ hội đầu tư dàn trải và tự do. Bên cạnh đó, cổ phần có thể được bán lại cho Barclays với mức giá cao hơn, đem lợi cho cả người bán và chính Diamond cùng ngân hàng của ông.

    Diamond cho hay, kế hoạch này là bước động viên tinh thần và khuyến khích tài năng ở BGI, cũng như tăng tối đa giá trị cổ phần của các cổ đông. Trong vòng 6 năm, Diamond đã thu về cho ngân hàng 1,26 tỉ bảng bằng kế hoạch kinh doanh rất thành công của mình.

    Con số này gấp nhiều lần các khoản thu khác sau thuế của Barclays. Nếu như chỉ mất có chưa đầy 30 triệu bảng thử nghiệm và triển khai kế hoạch, thì sau vài tháng Diamond đã làm lợi cho chính mình với con số đáng kinh ngạc 211 triệu bảng. Ấy thế nhưng báo cáo tài chính của ngân hàng lại giấu nhẹm chuyện này, hay không đưa ra bất cứ chỉ báo nào về các khoản thu của Bob Diamond.

    Các nhà bình luận chỉ ra những điểm thiếu sót và phê phán chiến thuật BGI của Diamond là "mượn tay nhân viên để làm giàu cho bản thân". Song ông phản pháo rằng, mọi dự tính đều hợp pháp, rằng nhân viên cũng nhận được lợi mỗi khi BGI thành công trong một thương vụ làm ăn, và Diamond đã từng phải chịu cảnh thua lỗ nặng vì tính toán sai.

    Bob Diamond không phải là kẻ tiểu nhân hay một anh hùng nào đó quá nổi danh trên thị trường tài chính. Tuy nhiên, ông có nhiều quan điểm khá chặt chẽ về mọi cơ hội đầu tư và tương lai của giới ngân hàng. Theo ông, chính phủ nên "thả" ngân hàng, đặc biệt là chuyện lãi suất và tiền thưởng hay lợi tức, vì suy cho cùng các ông chủ như Diamond đều phải chịu trận trước mọi biến động của thị trường.

    Diamond cũng chia sẻ những điều duy nhất và quan trọng nhất cho các ngân hàng hay doanh nghiệp hiện nay là tập trung vào việc giúp đỡ tạo công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế. Đó là lý do tại sao kể từ khi ông trở thành giám đốc điều hành của Barclays, đội ngũ quản lý đã tập trung vào 4 ưu tiên chiến lược - một trong số đó là công dân.

    Ông kêu gọi sự hợp tác để tạo ra tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn và thêm nhiều việc làm. Các ngân hàng có một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng. Họ cần một mối quan hệ mang tính xây dựng với khách hàng, với công chúng, với các chính phủ và với các nhà quản lý, để có thể tập trung vào tương lai. Để đạt được mục tiêu này, Diamond tiết lộ cần ba yếu tố. Trước tiên, phải xây dựng một sự hiểu biết tốt hơn về cách các doanh nghiệp và ngân hàng làm việc với nhau để tạo ra tăng trưởng kinh tế. Thứ hai, phải chấp nhận trách nhiệm về những gì đã đi sai và đánh giá đúng thiệt hại. Cuối cùng, quan trọng nhất là phải sử dụng các bài học kinh nghiệm để trở nên tốt hơn và sắm vai công dân hiệu quả hơn.

    Bấy lâu nay, Bob Diamond được dư luận ca ngợi về tài năng và nhân cách của một nhà quản lý trên thương trường tài chính. Nhưng anh hùng chỉ gặp thời, mà chẳng mấy chốc sẽ vấp ngã, trở thành một tội đồ. Diamond liên tục trở thành mục tiêu công kích của báo giới vì tiền và sự thiếu minh bạch trong đầu tư. Vụ bê bối thao túng lãi suất được công khai, ông chịu sức ép từ chức, ngân hàng phải bồi thường. Nhưng Diamond vẫn kiên quyết tự bào chữa, lôi kéo mọi "ông lớn" của chính trường Anh vào cuộc trong sự tức giận của Thủ tướng David Cameron...

Theo CAND

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2012

Cẩn thân khi làm ăn với Trung Quốc, nếu không muốn bị phá sản

Sau hai năm liền giảm liên tiếp, 6 tháng đầu năm nay kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) đã tăng 39% so với cùng kỳ.

Nhấn mạnh đây là "điều đặc biệt" trong bối cảnh khó khăn hiện nay, Phó tổng giám đốc Trần Văn Bắc cho biết con số cụ thể của kim ngạch xuất khẩu toàn doanh nghiệp này ước thực hiện 67,6 triệu USD, đạt 52% kế hoạch năm. So với cùng kỳ, công ty mẹ đã tăng tới 95%, các công ty con gần gấp ba lần, riêng các công ty liên kết thì chỉ tương đương.

Bên cạnh đa dạng hóa ngành hàng thì việc nỗ lực tìm kiếm, khai thác thêm thị trường cũng được coi là nguyên nhân quan trọng làm tăng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, từ thực tế giao thương, ông Bắc đã chia sẻ, “cần hết sức thận trọng với thị trường Trung Quốc”.

Câu chuyện cụ thể của Satra liên quan đến lĩnh vực mũi nhọn của doanh nghiệp này: xuất khẩu gạo.

“Đầu năm nay khi có đối tác là một doanh nghiệp khá nổi tiếng của Trung Quốc đặt vấn đề, Satra đã cử hai đoàn cán bộ sang tìm hiểu, cũng thấy nhà kho nhà máy dữ dằn lắm, đàm phán cũng ngon lành, sau đó họ cũng ký hợp đồng mua số lượng tới vài chục ngàn tấn gạo”, Phó tổng giám đốc Trần Văn Bắc bắt đầu câu chuyện.


Cũng băn khoăn là xưa nay Trung Quốc đâu có nhập gạo Việt Nam nên đã để ý tìm hiểu kỹ và có thể là họ mua để viện trợ cho một số nước châu Phi nào đó, hơn nữa những nguyên tắc tránh rủi ro của Satra như khi mở LC thì ứng tiền trước họ cũng chấp nhận nên yên tâm, ông Bắc kể tiếp.
Rồi, chuyến gạo đầu xuôi chèo mát mái mấy ngàn tấn, giá nhỉnh hơn một số thị trường khác. Nhưng chỉ đến chuyến thứ hai là đã “có vấn đề”, khi Satra đang tiến hành thu gom gạo thì đối tác phía Trung Quốc đề nghị hạ giá và yêu cầu dời ngày giao hàng.
Cùng thời gian đó, một số doanh nghiệp miền Tây có quan hệ làm ăn với Satra cũng gặp phải tình huống tương tự: bị doanh nghiệp Trung Quốc ép giá khi đã gom gạo vào kho.
“Biết là họ ép nhưng mình cũng phải bán vì nếu không trả lãi ngân hàng cũng chết, hơn nữa kho nào mà chứa được hết hàng, để lâu thì gạo mốc, phải bán đổ bán tháo, nhiều đại gia đồng bằng sông Cửu Long lỗ lã lớn khi rơi vào cảnh này”, ông Bắc phân tích.
Một “chiêu” nữa cũng được các thương nhân Trung Quốc rất ưa dùng, vẫn theo phân tích của ông Bắc, đó là khi doanh nghiệp Việt Nam đã đưa gạo xuống tàu, song phía Trung Quốc kiểm tra lại và nói là không đảm bảo chất lượng, dù phía Việt Nam đã kiểm tra đủ hết điều kiện. Và lúc này việc ép giá lại tái diễn, bởi đưa hàng quay về cũng rất tốn kém, khó khăn.
Satra vốn liếng mạnh nên không chấp nhận chuyện ép giá, hơn nữa tôi đâu có thể thiếu tiền được của nông dân nên hợp đồng hết sức chặt chẽ, chi phí có thể hơi cao nhưng vẫn thuê kiểm nghiệm đầy đủ bên Việt Nam. Vì thế, khi phát hiện phía Trung Quốc có “vấn đề” Satra chỉ làm duy nhất một chuyến rồi thôi, ông Bắc cho biết.
Từ thực tế không chỉ của riêng Satra, ông Bắc “đúc kết” làm ăn với thương nhân Trung Quốc “nếu không khéo và không cẩn thận, phá sản như chơi”.
“Chúng tôi cũng thông tin trong nội bộ khi làm ăn với thương nhân Trung Quốc phải thận trọng, tất nhiên mình không đóng cửa hoàn toàn nhưng mà phải hết sức thận trọng”, ông Bắc nói.
Trong câu chuyện của mình, vị lãnh đạo Satra cũng không quên nhắc đến nỗi niềm của bà con nông dân Việt khi “mắc lưới” một số thương nhân Trung Quốc ban đầu trả giá cao mua hàng thủy sản, trả tiền đầy đủ, sau đó gom thật nhiều hàng rồi cao chạy xa bay.
Đây cũng là vấn đề đã được một số vị đại biểu Quốc hội chất vấn thành viên Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội thứ ba vừa qua. Trao đổi với VnEconomy ngay sau phiên chất vấn đó, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát cũng thừa nhận thực tế này.
Còn Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang khi trả lời chất vấn trực tiếp tại nghị trường cũng cho biết “đã phát hiện và xử lý một số trường hợp” một số thương nhân người nước ngoài vào các vùng miền Tây Nam Bộ để thu mua hải sản sau đó xuất ra nước ngoài lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của đồng bào, đưa ra giá mua cao hơn một chút sau đó ghi nợ, rồi lừa đảo trốn luôn.

Nguồn Vneconomy

Thứ Năm, 12 tháng 7, 2012

Dân châu Á đầu tư “bạo” hơn dân Âu, Mỹ

Không ở đâu trên thế giới, nhà đầu tư lại “liều mình” như ở châu Á trong bối cảnh thị trường nhiều bất ổn hiện nay, theo kết quả một cuộc điều tra.

Hãng tin CNBC dẫn kết quả cuộc điều tra do hãng nghiên cứu Nielsen cho thấy, bất chấp những rủi ro trên thị trường tài chính toàn cầu, người tiêu dùng châu Á vẫn thích đầu tư hơn so với người tiêu dùng ở các khu vực khác. Chưa kể, họ còn thích rót vốn vào những tài sản rủi ro hơn so với các nhà đầu tư ở Mỹ và châu Âu.

Cuộc điều tra về quan điểm đầu tư của người tiêu dùng thế giới đã chỉ ra, 48% người tiêu dùng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương có đầu tư vào các thị trường hoặc sử dụng dịch vụ đầu tư, so với tỷ lệ chỉ 27% ở Bắc Mỹ và 21% ở Trung Đông và châu Phi, 16% ở châu Âu và 13% ở Mỹ Latin.

Sự ham thích rủi ro của các nhà đầu tư châu Á còn được thể hiện qua khả năng chịu đựng các biến động của thị trường. Theo ông Oliver Rust, Giám đốc điều hành của Nielsen, các nhà đầu tư châu Á có xu hướng giao dịch mạnh bạo hơn và thường xuyên hơn các “đồng nghiệp” châu Âu.

Hơn một nửa (57%) người tiêu dùng ở châu Á-Thái Bình Dương cho biết, họ sẵn sàng chấp nhận mức độ biến động trên 10% của thị trường. Ở Mỹ, tỷ lệ này là một nửa, còn ở châu Âu, chỉ có 45% số người tiêu dùng được hỏi đủ dũng cảm chấp nhận rủi ro như thế.

Ông Rust cho biết, các nhà đầu tư châu Á có xu hướng có tỷ lệ thu nhập khả dụng cao hơn, cho phép họ chấp nhận rủi ro nhiều hơn.

Một báo cáo của Euromonitor nhận định, tỷ lệ thu nhập khả dụng ở châu Á là cao hơn do tỷ lệ dân số lao động gia tăng trong khu vực dẫn tới những gia đình chỉ có người độc thân, hoặc những cặp đôi không có con cái. Theo báo cáo này, thu nhập khả dụng trên mỗi hộ gia đình đã tăng 13,2% trong thời gian từ năm 1995-2000 ở Mỹ, so với mức tăng 230% ở Trung Quốc.

Ông Mark Konyn, Giám đốc điều hành công ty quản lý tài sản Cathay Conning Asset Management cho rằng, tâm lý ham rủi ro của nhà đầu tư châu Á cũng có liên quan tới vấn đề quan điểm. “Ở châu Âu, chấp nhận rủi ro thường được xem là đầu cơ, thay vì là đầu tư. Ở những nền kinh tế tăng trưởng cao của châu Á, các nhà đầu tư thường tìm kiếm những cơ hội lợi nhuận cao và thường nhìn nhận các khoản đầu tư trong ngắn hạn hơn”, ông Konyn nhận xét.

Ông Shan Han, một nhà giao dịch của công ty chứng khoán IND-X nói thêm rằng, lạm phát là một yếu tố nữa phải nói đến. Theo ông Han, “lạm phát cao đồng nghĩa với việc giữ tiền không còn là một chiến lược tiết kiệm tốt vì lãi suất là thực âm”, thúc đẩy người tiêu dùng châu Á tìm kiếm tỷ suất lợi nhuận cao hơn.

Ông Han lấy Hồng Kông ra làm ví dụ. Trong hầu hết thời gian của thập niên 1990, lạm phát hàng năm ở vùng lãnh thổ này trung bình ở mức 8,5%, trong khi lãi suất tiền gửi ngân hàng chỉ là 6%. Điều này có nghĩa là, các nhà đầu tư gửi tiền trong ngân hàng mất 2,5% giá trị tài sản mỗi năm.

Ở khu vực châu Á, người tiêu dùng Hồng Kông có xu hướng là những nhà đầu tư chấp nhận rủi ro nhiều nhất. 55% người tiêu dùng được hỏi ở vùng lãnh thổ này là nhà đầu tư tài chính, vượt xa mức trung bình toàn cầu 33%.

Ông Rust cho rằng, thực tế này có liên quan tới vấn đề “tiền mới” - tài sản mới được sản sinh ra. “Thế hệ đầu tiên những người nắm giữ tài sản thường có xu hướng tập trung vào vấn đề tăng trưởng vốn, trong khi thế hệ thứ hai và thứ ba những người nắm giữ tài sản có xu hướng tập trung nhiều hơn vào vấn đề bảo toàn vốn”, ông Rust nói.

Đó là lý do vì sao ngày càng có nhiều người tiêu dùng châu Á chọn cổ phiếu thay vì kim loại quý và trái phiếu. Khoảng 3/4 người tiêu dùng châu Á được hỏi cho biết họ chọn cổ phiếu, cho dù họ xem cổ phiếu là loại tài sản rủi ro nhất. Ở Bắc Mỹ, chỉ có 2/3 số người được hỏi cho biết họ chọn cổ phiếu, còn ở châu Âu, tỷ lệ này là hơn một nửa.

Theo Vneconomy

So sánh “trùm” công nghệ với “trùm” tư bản

Các “ông trùm” công nghệ hiện nay – những nhân vật quyền lực và giàu có nhất đang điều hành các công ty máy tính và Internet lớn nhất thế giới – có gì khác so với những “ông trùm” tư bản trong quá khứ?
Từ trái sang phải: Hai nhà đồng sáng lập Google Larry Page và Sergey Brin, Chủ tịch kiêm CEO Michael Dell của Dell, đồng sáng lập Bill Gates của Microsoft và CEO Facebook Mark Zuckerberg.
“Ông trùm” công nghệ – Những người nắm trong tay tiền bạc và quyền lực
Một sự thật thú vị là 10 người trong danh sách 100 tỷ phú giàu nhất thế giới do Tạp chí Forbes (Mỹ) đưa ra đều kiếm tiền từ công nghệ máy tính và mạng Internet. Đứng đầu các nhà lãnh đạo công nghệ và đứng thứ hai trong danh sách là Bill Gates, đồng sáng lập của Microsoft. Mặc dù Bill Gates rất nhiệt tình với các hoạt động từ thiện nhưng khối tài sản ròng của ông vẫn được ước tính lên tới 61 tỷ USD. Theo sau Bill Gates là Larry Ellison, ông chủ Oracle với 36 tỷ USD, Michael Bloomberg với 22 tỷ USD. Larry Page và Sergey Brin – 2 nhà đồng sáng lập Google – cùng đứng vị trí 24 với 18,7 tỷ USD mỗi người. Jeff Bezos của Amazon đứng vị trí 26 với 18,4 tỷ USD, trong khi tỷ phú mới xuất hiện Mark Zuckerberg của Facebook đứng thứ 35 với 17,5 tỷ USD. Michael Dell, nhà sáng lập hãng máy tính nổi tiếng đứng thứ 41 với 15,9 tỷ USD trong khi Steve Ballmer,CEO của Microsoft đứng thứ 44 với 15,7 tỷ USD và Paul Allen – nhà đồng sáng lập Microsoft đứng thứ 48 với 14,2 tỷ USD.
Điều đáng chú ý nhất không phải mức độ giàu có đến kinh ngạc của những người này mà là họ đã giàu lên với tốc độ chóng mặt. Ví dụ, Mark Zuckerberg đi từ hai bàn tay trắng đến sở hữu 17,5 tỷ USD trong chưa tới 8 năm. Microsoft – công ty đưa Bill Gates, Ballmer và Allen vào danh sách của Forbes – được thành lập năm 1975. Oracle được sáng lập vào năm 1977. Michael Dell bắt đầu chế tạo máy tính trong phòng ký túc xá đại học vào năm 1984. Bezos thành lập Amazon với năm 1995. Brin và Page biến nghiên cứu tiến sĩ của mình thành công ty có tên Google vào năm 1998.
Đối với những người này, tài sản lớn đi đôi với quyền lực mạnh. Khi Microsoft chiếm lĩnh thị trường hệ điều hành PC và phần mềm văn phòng, Bill Gates và công ty của ông đã tận dụng sự độc quyền của họ để loại bỏ các đối thủ và quyết định giá cả. Trong kỷ nguyên mà “máy tính” luôn có nghĩa là máy tính để bàn, Bill Gates là Vua vì công ty của ông kiểm soát phần mềm chạy trên đó.
Khi mạng Internet lên ngôi, sức mạnh lớn dần chuyển sang cho các công ty và cá nhân thống trị lĩnh vực mạng. Nổi bật nhất là các nhà sáng lập Google. Họ có thể làm cho bất kỳ website nào trở nên “vô hình” với người dùng Google bằng những thuật tìm kiếm. Máy chủ của Google cũng có thể đọc mail và lưu trữ tài liệu của bạn. Ngoài ra, Google còn thống trị lĩnh vực quảng cáo trực tuyến. Các nhà sáng lập Google tuyên bố sứ mệnh của họ là “tổ chức lại thông tin của thế giới” – và đúng là họ đã làm như vậy. Họ tiến hành số hóa một lượng lớn sách in trên thế giới, chụp lại hình ảnh về mọi góc phố ở các nước công nghiệp..
Ở một phần khác của vương quốc công nghệ, Amazon không chỉ làm “bốc hơi” các cửa hàng bán sách truyền thống mà còn có tham vọng trở thành nhà xuất bản và hãng bán lẻ lớn nhất thế giới. Ở lĩnh vực mạng xã hội, Mark Zuckerberg đã khéo léo len lỏi vào mọi liên lạc trực tuyến được truyền đi bởi 900 triệu thành viên Facebook.
Các “ông trùm” đều xây dựng đế chế
Trong những chiếc áo cao cổ đen và quần Jean bạc màu, các “ông trùm” công nghệ hiện đại không có vẻ ngoài giống với những ông chủ tư bản có khuôn mặt lạnh lùng sát khí và ăn mặc bóng bẩy hồi thế kỷ 19. Tuy nhiên, giữa họ vẫn có những điểm giống nhau mà sự so sánh sâu sắc dưới đây sẽ chỉ ra.
Điểm giống nhau lớn nhất là họ đều tiên phong trong việc khai thác những lãnh thổ chưa có người thống trị và tạo ra các sự kiện có tính lịch sử.
Giữa thập niên 1990, khi cuộc cách mạng web đưa Internet phổ biến tới cộng đồng, nhiều nhà quan sát nói rằng mọi việc rất giống những gì xảy ra tại Mỹ sau khi nội chiến kết thúc vào năm 1865. Khi đó, vàng và tài nguyên khoáng sản được khám phá và khai thác, các ngành công nghiệp được thành lập, bùng nổ đầu tư và đầu cơ. Một nhóm nhỏ các doanh nhân khôn ngoan, tàn nhẫn và có tầm nhìn tạo ra một nền công nghiệp hiện đại. Các nhà tư bản tích lũy khoản tài sản khổng lồ cho bản thân, sử dụng một loạt những thủ thuật mờ ám bao gồm gian lận, pha loãng cổ phiếu (stock dilution), hối lộ các chính trị gia tham nhũng và bóc lột tàn nhẫn người dân nghèo không có công đoàn bảo vệ.
Mặc dù các “ông trùm” công nghệ hiện nay không bóc lột người nghèo. Họ thường xuất hiện trong các bài phỏng vấn thảo luận về máy tính, điện toán đám mây hoặc được mời ăn tối với Tổng thống Obama, được mời tới các hội nghị thượng đỉnh chính trị. Nhưng suy cho cùng, họ vẫn là những nhà tư bản đầy tham vọng cạnh tranh và tiền bạc. Họ có thể trông rất thân thiện, gần gũi nhưng thực chất vẫn hoạt động trong các ngành kinh doanh không chỉ để kiếm tiền mà còn nhằm tạo ra các đế chế thương mại độc quyền và bành trướng. Họ sẽ làm mọi việc để đạt được những tham vọng đó.
So với thế lực tư bản cũ, những “ông trùm” công nghệ đương đại – như Bill Gates, Larry Page và nhiều người khác – có vẻ “hiền lành” hơn. Ví dụ, họ có vẻ tuân thủ luật pháp hơn so với các nhà tư bản của thế kỷ 19. Tuy nhiên, cần nhớ rằng thế giới mà Microsoft, Oracle, Google và Amazon đang hoạt động cực kỳ khác so với thế kỷ 19. Trước đây, các nhà tư bản chủ yếu chỉ hoạt động trong lãnh thổ một quốc gia, còn các công ty công nghệ lớn ngày nay là các tập đoàn xuyên quốc gia, họ phải làm việc với nhiều nền văn hóa khác nhau và khu vực pháp lý khác nhau. Ví dụ, Larry Page, CEO của Google phải đối phó không chỉ với Bộ Tư pháp Mỹ, mà còn với Ủy ban Châu Âu, chính phủ Trung Quốc và cả nhân dân Nga…
Các công ty công nghệ hiện nay không khai thác khoáng chất, không xây dựng các nhà máy lọc dầu như giới tư bản cũ nhưng thực chất họ cũng đang xây dựng các đế chế. Trong khi chúng ta không nhìn thấy hàng hóa thông tin mà Google và các công ty khác thu thập, lưu trữ, phổ biến và kiểm soát, không có nghĩa là những hàng hóa đó không có thật và không có giá trị. Ví dụ, không gian ảo mà Facebook kiểm soát sẽ sớm có nhiều “cư dân” hơn tiểu lục địa Ấn Độ. Số lượng người dùng khổng lồ này và những thông tin lưu hành trong mạng xã hội sẽ đem lại cho Mark Zuckerberg quyền lực mà nhiều “ông trùm” khác phải ghen tị.
Ai còn được nhớ và ai sẽ bị lãng quên?
Nhưng có lẽ câu hỏi thú vị nhất về hai thế hệ trùm công nghiệp là về di sản mà họ để lại. Các ngành công nghiệp và doanh nghiệp được thành lập bởi các nhà tư bản thế kỷ 19 vẫn còn tồn tại – mặc dù trong một số trường hợp, hoạt động của họ chuyển sang châu Á hoặc các khu vực đang phát triển khác. Liệu một thế kỷ nữa, Google, Facebook, Oracle và Amazon có còn tồn tại? Những nhà sáng lập các công ty này sẽ để lại được gì? Đối với các “ông trùm” của thế kỷ 19, nhiều năm sau khi họ chết, chúng ta vẫn còn nhớ đến tên tuổi của họ như John D Rockefeller – “Vua dầu lửa” và Andrew Carnegie – “Vua sắt thép”. Liệu những người như Mark Zuckerberg và Larry Page có còn được nhớ đến bởi thế hệ cháu chắt chúng ta?
Câu trả lời có thể không phụ thuộc vào số tiền họ kiếm được, mà phụ thuộc vào những gì họ cho đi. Sau cùng, tên tuổi những nhà tư bản của thế kỷ 19 còn tồn tại luôn gắn liền các tổ chức từ thiện mà họ sáng lập. Ví dụ như quỹ Rockefeller Foundation thành lập năm 1913 và quỹ Carnegie Corporation of New York thành lập năm 1911. Hiện nay, chúng ta ít nhất đã có một “ông trùm” đương đại đang đi theo con đường đó. Bill Gates và quỹ Melinda Gates Foundation có tài sản 37,4 tỷ USD, là quỹ từ thiện lớn nhất thế giới.
Bạn sẽ thấy được sức mạnh ảo có ý nghĩa thế nào trong thế giới thực khi nhìn vào sáng tạo của Apple và Steve Jobs đang thống trị thị trường nhạc trực tuyến, smartphone và máy tính bảng; Google và Facebook biết mọi thông tin về đời sống của bạn, rằng bạn thích gì, ghét gì; Amazon rất am tường về thói quen và sử thích mua sắm của khách hàng…
Theo Phạm Duyên
ICT News/Guardian

Nguy cơ mất tiền vì mở gian hàng online đa cấp

Hàng chục lao động Bình Dương nguy cơ mất cả trăm triệu đồng vì tham gia vào hệ thống môi giới mở gian hàng ảo trên mạng. Cục Thương mại điện tử (Bộ Công Thương) cho biết chưa công nhận loại hình kinh doanh này.

Ông Nguyễn Thành Danh, Chi cục phó Quản lý thị trường tỉnh Bình Dương cho VnExpress.net biết, đơn vị này đang phối hợp cùng cơ quan chức năng xác minh, làm rõ việc hàng chục người, chủ yếu công nhân lao động được cho là đã lâm vào cảnh "biếu không tiền" cho sàn giao dịch điện tử. Sự việc liên quan đến chi nhánh Công ty Đ.H.P có văn phòng trên đường Thủ Khoa Huân, phường An Thạnh, thị xã Thuận An.

Cũng theo ông Danh, Sở Công Thương Bình Dương đã chỉ đạo bộ phận chức năng tiến hành thu thập hồ sơ, các giấy tờ liên quan đến hoạt động thương mại điện tử của chi nhánh công ty Đ.H.P, đặc biệt xem công ty có được cấp phép hoạt động tại Bình Dương hay không.

Chi cục QLTT Bình Dương làm việc với các nhân viên tố công ty Đ.H.P có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ảnh: N.T

Trước đó, nhiều nạn nhân đã gửi đơn tố cáo hành vi lừa đảo của công ty Đ.H.P, mời gọi nhiều người đóng phí mở gian hàng ảo trên mạng với điều kiện hấp dẫn, nhưng không thể rút lại tiền khi ngừng tham gia.

Vào tháng 2, chị Trương Thị Hường (23 tuổi, quê ở Nghệ An) đã tìm đến xin làm sau khi xem thông tin công ty Đ.H.P tuyển dụng với điều kiện hấp dẫn như không bị gò bó thời gian, thu nhập 5 triệu đồng một tháng.

"Ngày đầu đến công ty phỏng vấn tôi bất ngờ khi được giám đốc giới thiệu về một đề án với số vốn điều lệ hơn chục tỷ đồng để phát triển hệ thống thương mại điện tử của công ty. Tôi tin tưởng đây sẽ là cơ hội kiếm được thu nhập ổn định cho mình", chị Hường nói.

Điều kiện để trở thành "nhân viên" cho công ty là phải đóng 2,8 triệu đồng. Công ty giải thích đó là lợi phí để trở thành hội viên, đồng thời được mở gian hàng trên mạng. Sau khi đóng 2,8 triệu đồng sẽ được công ty quy đổi cứ 10.000 đồng được 1T tiền điện tử, người mới gia nhập như Hường sẽ có 280T và được lập một gian hàng trên mạng.

Nhân viên phát triển thêm hội viên sẽ được trích lại hoa hồng 600.000 đồng, còn giới thiệu người mở trang web với chi phí 6 triệu đồng thì được hưởng 1,5 triệu đồng. Trong trường hợp nhân viên ngừng làm việc muốn rút tiền lại, công ty hứa thì chỉ tốn 100.000 đồng tiền làm thẻ. Ngoài ra, công ty còn đưa ra nhiều chính sách khuyến khích tương tự việc bán hàng đa cấp như phân loại nhân viên theo thứ bậc từ VIP một đến VIP 8 với nhiều ưu đãi; hay thẻ cấp thẻ đa năng, giảm giá khi mua hàng, du lịch miễn phí…

Một cựu nhân Đ.H.P đóng 2,8 triệu đồng mở gian hàng lần đầu và được công ty cấp chứng nhận ngày 15/2 . Kể từ khi vào làm nhân viên, chị chỉ có nhiệm vụ đi mời gọi những người khác tham gia mở sàn để hưởng hoa hồng, mà không có bất kỳ giao dịch mua bán nào khác. Còn chị Hường đến nay đã giới thiệu được 20 người tham gia, ngoài ra còn giới thiệu thêm 28 người khác cùng tham gia đóng tiền mở gian hàng "sàn giao dịch".

Anh Lâm Văn Hợp cũng tham gia và giới thiệu cho 14 người khác cùng "sa bẫy" như mình. Một trong những nhân viên được cho là có "năng lực" là anh Lê Văn Quý đã giúp Đ.H.P "tuyển dụng"
được 50 người tham gia sàn với số tiền lệ phí đóng vào theo quy định được 140 triệu đồng. Ngoài ra còn nhiều “nhân viên” cũng tích cực mở trang web đóng mức phí thêm 6 triệu đồng cho công ty.

Trong ngày 10/7, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bình Dương đã tiếp xúc với nhóm cựu nhân viên tố cáo bị công ty này tung “kịch bản” bán hàng đa cấp trên mạng dưới hình thức mở sàn, gian hàng ảo để chiếm đoạt tiền. Bằng chứng sau khi không làm việc nữa họ yêu cầu công ty trả lại phí nhưng không được giải quyết.

Hiện Đ.H.P chưa lên tiếng giải thích về khiếu nại của nhân viên cũ. Trong khi đó, ông Đậu Văn Từ, nguyên giám đốc Chi nhánh Công ty Đ.H.P tại Bình Dương cho hay, do đã chuyển công tác sang trang thương mại điện tử khác cũng có mô hình kinh doanh tương tự như Đ.H.P nên việc nói về công ty cũ là không tiện.

"Thương mại điện tử thực chất là như cái chợ ai muốn mua thì vào mua. Ở đây chúng tôi bán hàng nghìn sản phẩm. Riêng những người đóng lợi phí là khoản tiền nằm trong hợp đồng với công ty. Công ty có trách nhiệm thiết kế gian hàng trên mạng cho họ là nhằm để bán hàng cho công ty hoặc sản phẩm của cá nhân", ông Từ nói.

Ông Từ giải thích thêm, việc nhân viên không muốn tham gia nữa nay xin rút lại không được giải quyết do làm chưa đủ thời gian. "Nếu làm đủ thì sẽ hoàn trả lại tiền, thậm chí còn hưởng nhiều ưu đãi khác", ông quả quyết.

Theo Chi cục phó Quản lý thị trường tỉnh Bình Dương Nguyễn Thành Danh, sau khi xem xét và làm việc bước đầu với những người tố cáo công ty Đ.H.P thì có một số vấn đề cần sớm làm rõ. Đó là, cần xác minh xem công ty có chức năng bán sàn hay gian hàng trên mạng nhưng có bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng hay không. Kế đến, nếu đã xem những người đóng tiền phí để trở thành nhân viên thì phía công ty có ký kết hợp đồng lao động, đồng thời có đảm bảo lợi ích hợp pháp theo pháp luật quy định hay không. Cuối cùng, đã gọi là hội viên thì tổ chức này thành lập đã được pháp luật công nhận hay chưa.

"Hiện chúng tôi đang khẩn trương thu thập các thông tin, hoạt động của công ty Đ.H.P theo góc độ là cơ quan quản lý trên lĩnh vực này. Riêng những yếu tố lừa đảo, chiếm đoạt tài sản đã được cơ quan điều tra vào cuộc để xác minh, xử lý", ông Danh nói.


Nguyệt Triều - Kim Khánh
(Nguôn Vnexpress)

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2012

Những sai lầm của Microsoft trong 10 năm qua

Một bài báo vào hàng “bom tấn” sẽ đăng trên tạp chí Vanity Fair chỉ ra những sai lầm “chết người” của hãng phần mềm lớn nhất thế giới Microsoft trong 10 năm qua.


Theo bài viết này, Microsoft đã để mất thế thượng phong trong cuộc chơi công nghệ vào tay đối thủ Apple bởi những cuộc đấu đá nội bộ đầy quan liêu, sự phụ thuộc thái quá vào hệ điều hành Windows và một hệ thống quản lý làm nản lòng những tài năng công nghệ hàng đầu.
Đây là bài viết sẽ đăng trên tạp chí Vanity Fair số ra tháng 8, nhưng đã được tạp chí này giới thiệu tóm tắt và thu hút sự chú ý lớn. Mang tựa đề “Microsoft’s Lost Decade” (tạm dịch: “Thập kỷ mất mát của Microsoft”), bài viết đã vẽ nên một bức tranh không mấy sáng sủa tại Microsoft trong 10 năm qua.

Tác giả Kurt Eichenwald đã phỏng vấn nhiều nhân viên của Microsoft  và dựa trên nhiều tài liệu của công ty, bao gồm email nội bộ, để thực hiện bài viết. Theo nhận định của tác giả này, một trong những vấn đề chính ở Microsoft thập kỷ qua là hệ thống đánh giá xếp hạng nhân viên kiểu “ngăn xếp”, trong đó số nhân viên được đánh giá xuất sắc, trung bình và kém luôn ở một tỷ lệ cố định. Đây được coi là một rào cản đối với năng lực sáng tạo và đẩy nhân tài ra đi.

Eichenwald viết: “Tất cả mọi nhân viên cũ và hiện tại của Microsoft mà tôi đã phỏng vấn đề coi hệ thống xếp hạng nhân viên là nhân tố hủy hoại lớn nhất ở Microsoft, đã khiến không biết bao nhiêu nhân viên quyết định bỏ tập đoàn mà đi. ‘Nếu bạn ở trong một nhóm gồm 10 người, bạn sẽ bỏ đi ngay trong ngày đầu tiên khi biết rằng, cho dù ai có làm việc tốt thế nào chăng nữa, thì trong nhóm sẽ có 3 người được đánh giá xuất sắc, 7 người bị đánh giá trung bình và 1 người bị đánh giá kém’, một kỹ sư phần mềm từng làm việc cho Microsoft tiết lộ. Cách đánh giá quan liêu như vậy khiến nhân viên chỉ thích cạnh tranh nội bộ chứ chẳng muốn cạnh tranh với các công ty khác”.

Ông Brian Cody, một kỹ sư từng làm cho Microsoft, khi được hỏi rằng bản đánh giá có dựa trên chất lượng công việc của ông không, đã cho hay: “Kết quả đánh giá chẳng liên quan mấy tới sự tiến bộ của tôi mà liên quan nhiều đến việc tôi phải làm thế nào để được quản lý biết đến nhiều hơn”.

Sự phụ thuộc quá đà vào hệ điều hành Windows cũng gây ra những thiệt hại lớn cho Microsoft, theo nhận định của bài báo, chủ yếu trong lĩnh vực điện toán di động. Bài báo nhấn mạnh rằng, Microsoft đã có một hệ điều hành điện thoại di động từ khá lâu trước khi hãng Apple tung ra chiếc iPhone. Nhưng Microsoft đã không thể phát huy được lợi thế này, chủ yếu bởi hãng khăng khăng muốn rằng, chiếc điện thoại, nếu có, phải lấy Windows là trung tâm.

Tác giả Eichenwald cũng chỉ ra những cuộc đấu đá nội bộ gây hại cho Microsoft, đặc biệt liên quan tới lĩnh vực di động. Ông Ed McCahill, một người từng làm quản lý marketing cho Microsoft 16 năm, cho hay: “Nếu nhìn vào chiếc điện thoại di động Windows Phone, bạn sẽ tự hỏi, vì sao mà Microsoft lại lãng phí vai trò dẫn đầu mà họ từng có được với các thiết bị chạy hệ điều hành Windows CE? Họ đã có ưu thế lớn, họ đã đi trước hàng năm. Nhưng chính họ đã phá hủy ưu thế đó. Họ mất hết ưu thế chính bởi sự quan liêu”.

Vào năm 1998, Microsoft đã phát triển được mô hình của một thiết bị đọc sách điện tử e-reader. Tuy nhiên, khi nhóm kỹ sư phát triển mô hình này giới thiệu sản phẩm của họ với Bill Gates, ngài Chủ tịch ngay lập tức gạt sang bên, cho rằng thiết bị này không hợp với Microsoft. “Ông ấy không thích giao diện người dùng của thiết bị, vì trông không giống Windows”, một nhà lập trình tham gia vào dự án trên nhớ lại.

Sau đó, nhóm kỹ sư này bị chuyển thành một nhóm làm việc về phần mềm Office, kết thúc sứ mệnh “mơ ước và sản sinh ra những ý tưởng mới” và thay vào đó, tập trung vào nhiệm vụ làm thế nào để tạo ra lợi nhuận.

Một cựu quan chức trong bộ phận Office tiết lộ rằng, “cái chết” của thiết bị e-reader ở Microsoft hồi năm 1998 không đơn thuần là hậu quả của ham muốn lợi nhuận tức thời. Vấn đề thực sự nằm ở phần màn hình cảm ứng. “Office được thiết kế để làm việc với bàn phím thay vì bút cảm ứng hay ngón tay. Công việc của chúng tôi phải đối mặt với đủ kiểu định kiến cá nhân”, ông này nói.

Nhiều nhân viên khác trong Microsoft cũng cho biết, sự trung thành với Windows và Office đã hết lần này tới lần khác cản trở họ nhảy vào những công nghệ mới. Anh Steve Stone, một nhân viên đã làm ở Microsoft 8 năm, nói với Eichenwald rằng: “Windows được coi là chúa trời, mọi thứ đều phải gắn với Windows. Những ý tưởng về điện toán di động với trải nghiệm người dùng dễ chịu hơn với một chiếc máy tính cá nhân đều bị xem là không quan trọng bởi một vài nhân vật quyền lực. Họ luôn có cách để tiêu diệt những ý tưởng đó”.

Một trong những kỹ sư trẻ làm việc ở dịch vụ chat MSN Messenger của đã Microsoft nhận thấy, đối tượng người dùng trẻ thường cập nhật status qua AIM của AOL - tính năng mà sản phẩm của Microsoft còn thiếu.

“Đó chính là sự khởi đầu cho xu hướng mạng xã hội như Facebook. Mọi người cần có một nơi nào đó để bày tỏ ý nghĩ. Mục đích chính của AIM không phải là chat, mà là để bạn có cơ hội đăng nhập bất kỳ lúc nào và xem xem bạn bè đang làm gì”, kỹ sư này nhớ lại. Khi anh nói với cấp trên rằng MSN Messenger thiếu tính năng tin nhắn ngắn, vị cấp trên ngay lập tức gạt phăng ý tưởng của anh, cho rằng không hiểu vì sao mà giới trẻ lại quan tâm tới việc quẳng lên mạng vài từ ngắn ngủi.

“Ông ấy không hiểu. Và vì ông ấy không hiểu hoặc là không tin là những người trẻ sẽ dùng các chương trình tin nhắn, chúng tôi đã chẳng làm gì hết”, vị kỹ sư nhớ lại.

“Trước đây, Microsoft là đỉnh cao, giờ thì họ chỉ là một miền đất bị bỏ hoang. Đó là Microsoft. Họ không còn hấp dẫn nữa. Trước đây, họ vẫn chế nhạo IBM. Nhưng bây giờ thì họ đã trở thành một công ty đúng như những gì họ chế nhạo”, ông Bill Hill, một cựu quản lý của Microsoft, nhận xét.