Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012

Nhà giàu Trung Quốc kiếm chỗ đầu cơ

Một cặp quả 350 NDT (55 USD) 10 năm trước giờ có thể bán với giá 3.500 NDT hoặc thậm chí là 20.000, 30.000 NDT.

Khi các loại hình đầu tư truyền thống như cổ phiếu hay bất động sản chỉ cho lợi nhuận nhỏ, hoặc thậm chí là lỗ, thì vài năm trở lại đây, các nhà đầu tư Trung Quốc lại đổ vốn vào những "đồ chơi văn hóa", điển hình là quả óc chó, để thu lời hàng nghìn USD. Từng là trò chơi ưa thích của vua chúa xưa, quả óc chó thời nay không chỉ là kênh đầu tư hấp dẫn, mà còn là biểu tượng của sự phú quý.

Nhà sưu tập Kou Baojun ở Bắc Kinh cho biết quả óc chó càng to, lâu năm và cân xứng thì càng đáng giá. Ông đang sở hữu hơn 30 quả óc chó, phần lớn đã trên 100 năm và vỏ có ánh đỏ nhờ nhiều năm cọ xát bằng lòng bàn tay. Kou nói: "Thú chơi này không dành cho người bình thường".

Quả óc chó đang trở thành tâm điểm của giới đầu cơ Trung Quốc. Ảnh: Financial Post
Quả óc chó đang trở thành tâm điểm của giới đầu cơ Trung Quốc. Ảnh: Financial Post

Hứng thú của những nhà sưu tập như Kou đã làm bùng nổ ngành kinh doanh quả óc chó ở Trung Quốc. Hu Zhenyuan, chủ một chuỗi cửa hàng chuyên kinh doanh loại quả này cho biết anh thường phải mua cả cây từ những người nông dân trước vụ thu hoạch mới có đủ hàng để bán tại Bắc Kinh.

Hu nói: "Đầu tư vào quả óc chó sinh lời rất lớn qua từng năm. Một cặp quả 350 NDT (55 USD) 10 năm trước giờ có thể bán với giá 3.500 NDT hoặc thậm chí 20.000, 30.000 NDT". Loại quả này từng lên cơn sốt năm 2010 khi Bắc Kinh nỗ lực kiềm chế đầu cơ bất động sản, buộc giới thượng lưu buộc phải tìm cách đổ tiền sang kênh khác.

Hiện tại, khi chứng khoán mất tới 40% giá trị trong ba năm, và kênh đầu tư nước ngoài còn rất ít, thì thị trường cho quả óc chó hay các món đồ truyền thống như bầu đựng dế lại phát triển rầm rộ. Trên một website mua bán trực tuyến nổi tiếng của Trung Quốc, một cặp quả óc chó còn được niêm yết với giá 31.000 USD.

Năm 2006, giới đầu cơ đã đẩy giá trà xanh Vân Nam lên cao chóng mặt. Năm 2009, đến lượt giá tỏi leo lên mức kỷ lục, và gần đây nhất, đồ nội thất làm từ gỗ gụ lại trở thành tâm điểm săn đón của họ.

Ông Mark Williams, một nhà kinh tế học tại Capital Economics (London, Anh) cho biết: "Có rất nhiều người Trung Quốc đang thừa tiền mà không biết đầu tư vào đâu vì có quá ít kênh cho lợi nhuận cao. Bất động sản đang bị kiểm soát, chứng khoán đi xuống, gửi tiền ở ngân hàng thì chẳng có lợi mấy. Vì thế, họ chuyển sang hoạt động đầu cơ ".

Cơ quan quản lý chứng khoán Trung Quốc đang cố gắng thay đổi tình hình này bằng cách trừng phạt nặng những vụ giao dịch nội gián, giảm phí giao dịch và khuyến khích công ty trả cổ tức cao. Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng phải mất một thời gian nữa thì việc này mới phát huy hiệu quả. Vì nhiều người vẫn còn nghi ngờ liệu thị trường có ghẻ lạnh các nhà đầu tư cá nhân, hoặc các quỹ đầu tư có đang hoạt động vì lợi ích của họ hay không.

Chi Rui đã lập website thông tin về quả óc chó từ gần 10 năm nay. Anh cho rằng Bắc Kinh sẽ không quan tâm đến việc dòng tiền đổ vào các hàng hóa như quả óc chó, vì ít nhất chúng cũng không làm tăng giá thực phẩm như tỏi. Chi nói: "Chính phủ còn hy vọng người dân sưu tập các món đồ truyền thống, vì giá cả của chúng sẽ không làm ảnh hưởng đến chính trị hay cuộc sống thường ngày".

Hà Thu (tổng hợp)

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

Doanh nghiệp Việt Nam trong vòng lẩn quẩn vốn vay ngân hàng

“Những sự thay đổi rất thú vị...”

Ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung Ương tỏ ra đầy ẩn ý khi được hỏi về nhận định nền kinh tế của Việt Nam trong năm 2013: “Hiện nay, tôi không dám đoán gì cả nhưng tôi tin kinh tế Việt Nam tiếp tục chứng kiến những sự thay đổi rất thú vị, ít nhất là cho đến nửa đầu năm 2013”.

Trên thực tế, tiếp nối tình trạng khó khăn năm 2011, từ đầu năm 2012 đến nay, những con số quá khiêm tốn vẫn tiếp tục được đưa ra: tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong 6 tháng đầu năm chỉ đạt 4,38% so với cùng kỳ năm ngoái, tín dụng của toàn bộ nền kinh tế hầu như không tăng trưởng, hơn 30.000 doanh nghiệp bị giải thể hay tạm ngừng hoạt động tính đến hết tháng 7.

Những kết quả đáng thất vọng này xuất phát từ bối cảnh khó khăn chung ở trong và ngoài nước và cũng từ những chiến lược phát triển non kém của các doanh nghiệp Việt trong một thập kỷ trở lại đây. Câu chuyện này đã được mổ xẻ một cách khách quan tại Hội nghị đầu tư 2012 với tên gọi “Căn bệnh thập kỷ của doanh nghiệp Việt Nam” do Nhịp cầu Đầu tư tổ chức ở cả TP.HCM lẫn Hà Nội vào trung tuần tháng 8.

Nô lệ của vốn ngân hàng

Bệnh đầu tiên được “thăm khám” là tình trạng lệ thuộc vốn ngân hàng của doanh nghiệp nội địa. Ông Võ Trí Thành tỏ ra e ngại về cơ cấu vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Theo ông, các doanh nghiệp nước ngoài thường sử dụng tới 30% lợi nhuận để tái đầu tư, còn doanh nghiệp Việt Nam thì con số này rất thấp; họ chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng.

Ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chính sách Công, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, cũng đồng tình với quan điểm này. Theo ông, tỉ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu qua cuộc khảo sát 647 doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán trong quý 2/2012 (đã loại trừ các ngân hàng và các công ty tài chính) là 1,53, cao hơn rất nhiều so với các công ty niêm yết tại Mỹ và Trung Quốc, với tỉ lệ lần lượt là 1,2 và 1,06.

Tình trạng vay nợ quá nhiều này đã diễn ra rộn ràng ngay từ đầu những năm 2000. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính cao đã trở thành con dao hai lưỡi đối với các doanh nghiệp. Một mặt, nó góp phần gia tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp nếu khoản đầu tư có hiệu quả nhưng cũng sẽ xói mòn lợi nhuận nếu kinh doanh đi xuống. Đến khi Việt Nam đối mặt với khủng hoảng, mặt trái của đòn bẩy tài chính đã bộc lộ. Gánh nặng lãi vay, trong khi sản xuất đình đốn đã khiến một loạt các doanh nghiệp đang trên bờ vực phá sản, hình thành những xác chết lâm sàng, mà tiêu biểu gần đây là Công ty Thủy sản Bình An.

Theo thống kê của ông Xuân Thành, những ngành kinh doanh có tỉ lệ nợ/ vốn chủ sở hữu cao là xây dựng và bất động sản, năng lượng, nguyên vật liệu. Thấp nhất là ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp và hàng tiêu dùng. Đây là minh chứng rõ nét cho chu kỳ kinh tế Việt Nam vừa qua gắn liền với cơn mê muội bất động sản.

Không chỉ khối tư nhân, các doanh nghiệp nhà nước cũng nợ đìa với tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu trung bình là 1,71 (theo Bộ Tài chính). Đáng chú ý là những tập đoàn, tổng công ty lớn lại là những doanh nghiệp có tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu khá cao như tập đoàn điện lực Việt Nam (tỉ lệ: 4,26), Sông Đà (8,85), Tập đoàn HUD (6,36), Petrolimex (6,29), Vinalines (4,27).

Và như một tất yếu, để đáp ứng nhu cầu vốn quá lớn của các doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng đã không ngừng bành trướng về cả số lượng lẫn quy mô. Tính đến cuối năm 2011, quy mô vốn điều lệ của khối ngân hàng Việt Nam đã tăng hơn 9 lần so với cuối năm 2004. Tỉ lệ dư nợ tín dụng ngân hàng/GDP của Việt Nam trong các năm qua cũng tăng lên ở mức chóng mặt. Tỉ lệ này đã tăng từ mức thấp khoảng 40% vào những năm 2000 lên mức hơn 130% vào năm 2010; quá nhanh so với Philippines, Indonesia, Thái Lan và Malaysia.

Nguồn vốn dễ dãi cũng đã khuyến khích các doanh nghiệp nội địa đầu tư đa ngành vào những ngành nhiều rủi ro, nhạy cảm như bất động sản, chứng khoán và đã bị ảnh hưởng tiêu cực khi các lĩnh vực này đóng băng.

Và khi doanh nghiệp nguy khốn thì ngân hàng cũng lao đao. Dù trên báo cáo tài chính của nhiều ngân hàng, tỉ lệ nợ xấu vẫn không cao nhưng theo ông Xuân Thành, các khoản mục nợ xấu đã được ngân hàng che giấu và chuyển sang các hạng mục khác như khoản phải thu, tài sản khác và nợ khác, khiến cho các hạng mục này tăng lên rất nhanh (dựa trên so sánh báo cáo tài chính năm 2011 và 2010 của 37 ngân hàng).

Tỉ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu theo ngành kinh doanh

Đa ngành tốt hay xấu?

Trong khi ông Xuân Thành lưu ý về đầu tư đa ngành không hiệu quả như là lý do để các doanh nghiệp phải vất vả ngày hôm nay thì ông Nguyễn Nam Sơn, Giám đốc Điều hành Quỹ Đầu tư Vietnam Capital Partners (VCP), lại đưa ra một cách nhìn cụ thể. Ông nói: “Hiện tượng đầu tư đa ngành diễn ra ở đa số các doanh nghiệp. Rất nhiều công ty lớn đầu tư vào ngân hàng, chứng khoán và bất động sản. Trong vòng 2 năm tới, theo tôi, có đến 90% công ty chứng khoán sẽ phải đóng cửa, chỉ có 5-7 công ty tồn tại lâu dài”.

Một ví dụ điển hình về hiệu quả hoạt động được ông Sơn đưa ra là hai công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) và Chứng khoán Sacombank (SBS) - trực thuộc ngân hàng Sacombank. Trong khi SSI tập trung vào các năng lực cốt lõi của mình là quản trị rủi ro, tự doanh, quản lý tài sản, dịch vụ ngân hàng đầu tư, đội ngũ nghiên cứu mạnh, môi giới cho khách hàng cá nhân lẫn tổ chức thì SBS lại làm ngược lại. Hệ quả là dù thị trường có khó khăn nhưng lợi nhuận của SSI không bị ảnh hưởng nhiều. Trong khi đó, SBS đã bị lỗ và công bố lỗ cả ngàn tỉ đồng kể từ cuối năm 2011.

Ví dụ thứ hai là công ty Kinh Đô và Vinamilk. Kinh Đô do đầu tư vào bất động sản thiếu hiệu quả nên sức phát triển đã bị giảm đáng kể trong những năm gần đây. Ước tính từ năm 2007 đến nay, Kinh Đô đã rót khoảng 13% tổng tài sản vào các dự án bất động sản. Hiệu quả sử dụng vốn thể hiện qua chỉ số lợi nhuận/vốn (ROE) của Kinh Đô hiện chưa tới 10%, xấp xỉ mức của năm 2007. Trong khi đó, tính từ năm 2007 đến nay, chỉ số này của Vinamilk đã tăng gấp đôi, gần 40%.

Ông Nam Sơn cho rằng, sai lầm do đầu tư đa ngành bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất là Hội đồng Quản trị và Ban điều hành hoạt động thiếu hiệu quả do thiếu kinh nghiệm và kiến thức, lạm quyền và chưa có tính độc lập khi ra các quyết định. Thứ hai là không vạch ra được chiến lược đầu tư và tài chính dài hạn, không am hiểu thị trường mình kinh doanh.

Một góc nhìn nhỏ để chứng minh cho luận điểm trên là khi ông Nam Sơn so sánh mô hình Hội đồng Quản trị tiêu biểu của Công ty Capital Land (Singapore) với đa số các công ty Việt Nam. Dễ thấy là những người lãnh đạo Capital Land từ Chủ tịch cho tới Tổng Giám đốc đều hơn 60 tuổi. Họ hầu hết đều có bằng cấp trung bình là Thạc sĩ hoặc Tiến sĩ kinh tế đồng thời có nhiều năm làm việc cho các tập đoàn toàn cầu như Shell, ngân hàng Goldman Sachs, Deutsche Bank. Trong khi đó ở Việt Nam, hầu hết các thành viên lãnh đạo đều ở độ tuổi trung bình là 32, chưa có kinh nghiệm làm việc ở môi trường tài chính toàn cầu hoặc tốt nghiệp những ngành không liên quan đến tài chính và làm việc nhờ ưu thế người thân của lãnh đạo cấp cao.

Đó là chưa kể đến việc ban quản trị thiếu chiến lược tài chính và chiến lược thị trường dài hạn. “Không nhiều doanh nghiệp vạch ra kế hoạch kinh doanh dài hạn từ 5 năm đến 10 năm mà chỉ 1 năm”, ông Nam Sơn nhận xét.

Tuy vậy, ông Đỗ Minh Phú, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty DOJI, người sở hữu 6 công ty con và hoạt động đa ngành khá thành công trong các lĩnh vực trang sức, nhà hàng, khoáng sản, khu công nghiệp, thương mại, băng vệ sinh lại cho rằng, vấn đề không phải có nên đầu tư đa ngành hay không mà là phải chọn cách thức đầu tư đa ngành hợp lý để tạo hiệu quả kinh doanh cao nhất. Vì thế, ông cho biết khi bước vào lĩnh vực nào, ông cũng đều khá thận trọng. Ông Minh Phú chia sẻ rằng chưa bao giờ có ý định sẽ dùng tiền của ngân hàng Tiên Phong (một ngân hàng mà ông và em trai đã mua lại gần đây) để tài trợ cho các công ty con khác. Và với các công ty của mình, ông cũng không có ý định biến chúng thành công ty gia đình.

“Tôi không tán thành chuyện mua ngân hàng để dùng nó vào các mục đích đầu tư khác. Điều này vô cùng rủi ro về mặt pháp lý. Bên cạnh đó, nếu để tình trạng xảy ra sở hữu chéo giữa các công ty và ngân hàng, có thể chúng ta sẽ đối mặt với nhiều kết cục bi thảm”, ông Minh Phú nói.

Dù vậy, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Thương mại, vẫn cho rằng Việt Nam nên xem xét cách làm của Hàn Quốc. Đó là những ông chủ đã sở hữu ngân hàng không được phép sở hữu những doanh nghiệp khác.

Bất động sản sẽ chết trong vòng 2 năm tới

Phần lớn các công ty hoạt động đa ngành đều dính đến bất động sản và đây là vấn đề được thảo luận sôi nổi tại Hội nghị. “Trong vòng 2 năm tới, đa số các công ty bất động sản sẽ bị phá sản”, ông Nam Sơn dự báo.

Điển hình của sự khốn khó là thị trường nhà ở. Các căn hộ cao cấp liên tục được các chủ đầu tư hạ giá nhưng vẫn không có người mua. Tình trạng này buộc nhiều chủ đầu tư phải trì hoãn các dự án đang thực hiện, như dự án Saigon Residences, Saigon One - M&C và New Pearl. Và không chỉ thị trường nhà ở mà cả thị trường văn phòng cũng vô cùng ảm đạm. Trong 2 năm gần đây, nguồn cung mỗi năm tại thị trường văn phòng cho thuê Hà Nội luôn cao hơn mức 30%/năm. Ước tính đến năm 2014, nó sẽ đạt con số 2 triệu m2 và tỉ lệ diện tích trống sẽ hơn 40%, dù thị trường có hấp thụ tốt đến đâu đi nữa. Giá thuê văn phòng cũng giảm liên tục trong 11 quý gần đây.

Theo ông Marc Townsend, Tổng Giám đốc của CBRE Việt Nam, thị trường căn hộ sẽ khó hồi phục nhanh. “Chu kỳ lạm phát những năm gần đây cho thấy, độ trễ từ khi lạm phát và lãi suất giảm xuống còn dưới 10% cho đến khi thị trường căn hộ hồi phục là 6 tháng”, ông Townsend nói.

Bà Nguyễn Thị Mai Thanh, Tổng giám đốc Công ty Cơ điện REE, cho rằng bất cứ doanh nghiệp ở lĩnh vực nào nếu muốn làm bất động sản đều phải có hiểu biết về ngành này. Đất đai ở Việt Nam do được cấp theo cơ chế xin-cho nên doanh nghiệp nào “chạy” nhiều thì được nhiều. Tăng trưởng nóng cùng với tín dụng khá dễ dãi đã dẫn đến hậu quả như ngày hôm nay.

Hiện nay, các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam đã đứng trước những rủi ro lớn. Hệ số nợ/vốn chủ sở hữu của các công ty bất động sản Việt Nam là 120%, so với mức trung bình 45% của doanh nghiệp cùng nghề trong khu vực Đông Nam Á. Đồng thời, hệ số nợ/lợi nhuận trước thuế và lãi vay của một số doanh nghiệp ngành này đã ở mức 10 lần như các doanh nghiệp Phát Đạt, Sacomreal, Quốc Cường Gia Lai, Đầu tư Kinh Bắc. Trong khi đó, rủi ro phá sản nếu thị trường diễn biến xấu với chỉ số này là khoảng 6 lần. Điều này cho thấy các doanh nghiệp lỡ dính vào bất động sản cần phải rút nhanh ra khỏi thị trường này.

Theo ông Nam Sơn, phải giảm giá bán thêm 50% nữa để bằng với mức giá chung của các nước châu Á. Nghiên cứu của ông ở thị trường Việt Nam cho thấy, giá bán căn hộ chỉ nên từ 60.000 - 100.000 USD/căn. Chủ đầu tư cũng phải giảm chi phí xây dựng, trang thiết bị phải đẹp và phải giảm diện tích căn hộ. Nhìn sang thị trường Bangkok sẽ thấy hơn 90% số căn hộ mới xây đều có diện tích nhỏ hơn 50 m2.

Rất có thể 5 năm nữa thị trường bất động sản mới phục hồi và 2 năm tới là khoảng thời gian khó khăn nhất. Theo ông Townsend, để giải phóng hàng tồn, các chủ đầu tư cần phải bán tháo.

“Tại Bangkok có nhiều dự án phải treo với thời hạn lên đến 10 năm và các dự án của Việt Nam cũng có thể rơi vào hoàn cảnh tương tự. Tôi nghĩ rằng cách để chủ đầu tư bất động sản thoát nhanh khỏi các dự án là treo biển bán tháo và bán càng nhanh càng tốt”, ông nói. Tuy nhiên, không phải dễ dàng để bán tháo. Rất nhiều chủ dự án ở Việt Nam vẫn còn nặng tâm lý “bán là thất bại” hay mất thể diện, nên chưa thực sự thoải mái khi tiếp xúc với các nhà đầu tư, các quỹ đầu tư hay các đơn vị môi giới. Vì thế, cách cuối cùng để thoát khỏi thị trường hiện nay là không làm gì cả. “Hãy đi du lịch hoặc chơi golf. Thời gian này là không thuận lợi để kinh doanh bất động sản và chắc chắn lợi nhuận cũng không còn cao”, ông nói bông đùa.

Vốn ơi, khó quá!


Khi căn bệnh được đưa ra, phương thức nào sẽ chữa được bệnh? Ông Dominic Price, Tổng Giám đốc JP Morgan Việt Nam, khuyến nghị: trong bối cảnh thị trường chứng khoán còn non trẻ (quy mô giao dịch khoảng 25-30 triệu USD/ngày) cộng với việc hạn chế tăng trưởng tín dụng trong nước thời gian qua, huy động vốn quốc tế là một trong các giải pháp tích cực đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Biểu hiện tích cực đầu tiên có thể thấy là từ các thương vụ mua bán và sáp nhập năm ngoái với hơn 260 vụ, tổng giá trị gần 3,7 tỉ USD. Các ngành nhộn nhịp nhất là công nghiệp chế biến (chiếm tỉ lệ 24% năm 2011), hàng tiêu dùng nhanh (20%), nguyên vật liệu (16%), ngân hàng (15%) và bất động sản (8%).

Hai là, các doanh nghiệp trong nước có thể huy động vốn quốc tế thông qua phát hành riêng lẻ cổ phiếu, phát hành trái phiếu chuyển đổi, vay vốn có bảo lãnh và không bảo lãnh hoặc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài.

Ông Trương Đình Tuyển, cũng đồng ý với giải pháp doanh nghiệp nên tìm vốn quốc tế. Nhưng cùng với ông Võ Trí Thành, ông dự báo sẽ có rất ít doanh nghiệp tìm được vốn theo cách này vì thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong nước chưa hình thành, việc phát hành trái phiếu ra quốc tế còn phụ thuộc vào uy tín quốc gia, thương hiệu doanh nghiệp. Vingroup chỉ là số ít các doanh nghiệp đã thành công khi phát hành trái phiếu tại Singapore.

Để xây dựng một thị trường trái phiếu trong nước thành công, theo ông Thành, cần phải kiên nhẫn và thực hiện từng bước, với thời gian từ 7-10 năm.

Đứng ở góc độ vĩ mô để phân tích vốn doanh nghiệp, ông Tuyển cho rằng, với thói quen xem vốn ngân hàng là chủ yếu thì các doanh nghiệp cần hiểu rằng tín dụng tiếp tục không đi ra được nền kinh tế, một phần là do nhu cầu giảm. Ngược lại, những doanh nghiệp có khả năng tiếp tục kinh doanh thì nợ xấu lớn nên chắc chắn cũng sẽ không tiếp cận được vốn.

(Nguồn: Nhịp cầu Đầu tư)

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

Giàu, Nghèo vì sao?

Tại sao có cô công nhân dệt làm suốt 4 năm, đình công lên xuống mà vẫn không được tăng lương, còn một cô công nhân khác chỉ sau 2 năm đã kịp trở thành bà chủ một xưởng may?

 

Ở đời người ta thường hỏi “Làm giàu thế nào?” chứ ít ai chịu hỏi “Vì sao tôi nghèo?”. Chính vì vậy nhiều người không bao giờ nhìn thấy những nhược điểm của mình để tự khắc phục và cuối cùng nghèo vẫn hoàn nghèo.

Chuyện anh nông dân

Có anh nông dân tên Nghèo, ông bà để lại cho 3 thửa ruộng. Mỗi năm ba vụ bán mặt cho đất bán lưng cho trời, sau khi trừ tiền giống, tiền phân, tiền phơi … và không bị lũ lụt, sâu rầy thì chỉ kiếm đủ tiền chi tiêu ăn uống. Năm ngoái xã mở đường nhựa qua ruộng Nghèo, tiền đền bù cũng được kha khá, nhưng chỉ ăn được hơn năm thì lại…nghèo.



Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Một anh nông dân khác tên Giàu, nhà cũng 3 thửa ruộng, cũng làm quần quật như anh Nghèo. Cuối vụ đập lúa xong anh hốt trấu về om bếp, xin người ta rơm rạ rồi bó lại thuê xe thồ đến bán cho nhà người xóm trên nuôi bò. Tối nằm vắt tay lên trán anh chợt nghĩ, sao nông dân thì cứ phải bán thóc nhỉ?

Thế rồi anh học người ta lấy gạo làm sợi bún, đem bỏ mối ngoài thị xã. Anh thấy hạt gạo chỉ chế biến chút thôi đã bán được giá gấp 5 lần. Thấy Nghèo mất ruộng, Giàu cho thuê ruộng cày, mua gạo của Nghèo về làm bún bán, không làm ruộng nữa.

Chuyện cô thợ dệt

Cô thợ dệt tên Nghèo, làm công nhân trên tỉnh, một ngày đạp máy 12h, đã 4 năm nay cô chỉ may cái túi vào áo. Vật giá leo thang, tiền lương vẫn thế, khó sống quá, cô rủ chị em đình công đòi tăng lương, chủ bảo 4 năm cô cũng chỉ làm được từng ấy việc, sao tôi phải tăng lương?

Một cô thợ may khác tên Giàu, làm cùng khâu với cô Nghèo. Giàu làm được 3 tháng biết việc rồi là xin sang tổ khác, cứ thế 2 năm sau đã thạo làm hết các khâu. Chủ đưa cô lên làm trưởng ca, lo chỉ bảo đôn đốc chị em trong xưởng.

Cuối năm rồi Giàu xin nghỉ về quê 3 tháng, dạy chị em trong làng xỏ kim may áo, vay tiền mua máy rồi lên tỉnh nói với chủ “chị giao áo cho em may, thợ em ở nhà không phải ăn cơm ở trọ nên em giao hàng giá rẻ hơn cho chị”. Còn Nghèo đâu biết vì có những người như Giàu mà Nghèo chả được tăng lương.

Chuyện anh họa sĩ

Một anh họa sĩ tên Nghèo, làm công ở xưởng chép tranh. Nghèo khéo tay vẽ đẹp, tranh của danh họa nào vẽ cũng giống một chín một mười. Nhưng đã sáu năm rồi, Nghèo vẫn cứ ... chép tranh.

Còn anh họa sĩ tên Giàu, chép tranh chả đẹp bằng Nghèo, chủ bán không được nên cho nghỉ việc. Giàu ngẫm tranh chép cũng là đồ giả mà lại đắt, chỉ bọn trọc phú mới mua. Giàu phóng tranh thành ảnh, lồng khung sang trọng rồi bán giá chỉ bằng 1/4 tranh của ông chủ nơi Nghèo làm việc. Thấy Giàu phất nhanh Nghèo hỏi cách nào, Giàu bảo “tại tớ bán khung mà người thì lại mua tranh”.

Ngẫm ở đời người ta thường hỏi “Làm giàu thế nào?” chứ ít ai chịu hỏi “Vì sao tôi nghèo?”

Đỗ Chí Hiếu

Chiêu biến lãi thành lỗ của các doanh nghiệp FDI

Cục Thuế TP.HCM vừa công bố qua thanh tra 140 doanh nghiệp (DN) kê khai lỗ, kết quả đã điều chỉnh giảm lỗ là 1.705 tỉ đồng, truy thu 143,5 tỉ đồng. Trong đó, đã lộ ra nhiều “chiêu” chuyển giá biến lãi thành lỗ để trốn thuế.

Một trong những thủ thuật chuyển giá của DN dệt may nước ngoài - Ảnh: T.ĐẠM


Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Lê Thị Thu Hương - cục phó Cục Thuế TP.HCM - cho biết:

- Các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) sản xuất gia công, đặc biệt là ngành may mặc, da giày, giá gia công đều phụ thuộc nước ngoài và thấp hơn chi phí. Một số DN giao lại cho DN trong nước gia công trên 80% qua các công ty thành lập tại VN mà chủ DN là thành viên góp vốn của các công ty này. Giá giao lại có khi cao hơn hoặc bằng giá gia công nhận của nước ngoài, còn công ty chịu lỗ khoản chi phí quản lý DN. Có DN còn treo lại chi phí tiền lương đã trả cho công nhân số tiền hàng trăm tỉ, lớn hơn doanh thu đã kê khai. Trường hợp này cơ quan thuế đã chứng minh là vô lý, đồng thời bác doanh thu, chi phí mà DN đã kê khai.

Thời gian qua ngành dệt may, da giày là “điểm nóng” chuyển giá vì ngành này có nhiều chủng loại khác nhau, nhiều hãng khác nhau, có DN chỉ gia công một phần của đôi giày, có DN làm toàn bộ. Nhiều DN sau khi nhận gia công lại chia cho các công ty “vệ tinh” nên cơ quan thuế phải truy từ các DN cùng ngành để từ đó tính ra tỉ suất lợi nhuận áp cho các DN này.

* Những ngành khác như kinh doanh khách sạn, cao ốc văn phòng... lợi dụng kẽ hở nào để kê khai lỗ?

"Chỉ cần trong quy định có thêm điều buộc các DN phải tăng tỉ trọng tỉ lệ nội địa hóa trong quá trình sản xuất sẽ quản lý được tình trạng chuyển giá"
Ông Diệp Thành Kiệt (phó chủ tịch Hiệp hội Da giày VN - Lefaso)
- Một trong những ngành cũng kê khai lỗ triền miên là kinh doanh khách sạn nhà hàng, kinh doanh căn hộ, văn phòng. Thanh tra cho thấy tại những đơn vị này xuất hiện phí quản lý của phía nước ngoài, chi phí chuyên gia, lãi vay ngân hàng... Các chi phí quản lý được trả cho nước ngoài thường có xu hướng cao hơn mức quy định. Đáng chú ý, đơn vị quản lý cũng chính là đơn vị nằm trong cùng tập đoàn.


Cục Thuế TP.HCM còn phát hiện một số trường hợp thể hiện rõ việc chuyển thu nhập cho đối tác phía nước ngoài thông qua việc phát sinh nhiều chi phí, trong đó có chi phí quản lý hệ thống. Thực tế đây là loại chi phí vô hình như chi phí sử dụng chung phần mềm, chia sẻ thông tin... DN dù lỗ vẫn trả chi phí cho chuyên gia nước ngoài rất cao do tận dụng kẽ hở quy định không cấm việc trả lương người nước ngoài cao và không phụ thuộc kết quả kinh doanh. Các đơn vị kinh doanh cao ốc văn phòng cho thuê, chủ đầu tư đều được thành lập ở các quốc gia không phải đánh thuế thu nhập hoặc thuế suất rất thấp. Các trường hợp trên đều không điều chỉnh được do không có quy định pháp lý nào để điều chỉnh.

Một số DN quy định trong hợp đồng mua bán hàng hóa dịch vụ không rõ ràng cụ thể theo quan hệ mua bán bình thường, các bên có thể thay đổi nội dung tùy tiện cả khi sắp hết thời gian thực hiện của hợp đồng. Do đó có những chi phí phát sinh phải do nước ngoài chịu nhưng DN vẫn hạch toán vào chi phí cho phía VN chịu.

Còn với các siêu thị xuất hiện khoản chi phí thương hiệu bản quyền trả cho nước ngoài theo sự thỏa thuận của các bên, cơ quan quản lý chưa quy định cụ thể mức trần chi phí, do đó khoản chi phí này phát sinh rất lớn. Ngoài ra còn có yếu tố gian lận trong việc khai báo hàng hóa xuất khẩu, khai thiếu tờ khai xuất khẩu... Từ các dấu hiệu trên của DN, qua thanh tra, Cục Thuế đã điều chỉnh lại để tính thuế. Các trường hợp chưa rõ ràng hoặc chưa đối chiếu thông tin, Cục Thuế tiếp tục xem xét và sẽ điều chỉnh khi có đủ thông tin.

* Tình hình kê khai lỗ của DN FDI có chuyển biến thế nào sau khi Cục Thuế TP.HCM đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra chống chuyển giá?

- Bước đầu việc tập trung thanh tra DN kê khai lỗ đã có tác dụng, đánh động đến các DN thường xuyên khai lỗ, đặc biệt đối với các DN có quan hệ giao dịch liên kết. Nhiều trường hợp DN đã tự điều chỉnh lại giá bán, giá gia công của các niên độ khác sau khi thanh tra. Bên cạnh đó, cùng với kết quả thanh tra, qua công tác kiểm tra, giải quyết hoàn thuế cũng đã động viên, phân tích để DN có giao dịch liên kết tự kê khai điều chỉnh giảm lỗ hoặc đề xuất một tỉ lệ lãi trên vốn có thể chấp nhận được. Cơ quan thuế rất hoan nghênh một số DN, tập đoàn lớn của nước ngoài khi đầu tư vào VN đã phân chia một tỉ lệ lợi nhuận nhất định cho DN thành lập tại VN để thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước VN. Hiện tượng giao dịch liên kết không chỉ đối với các DN có vốn đầu tư nước ngoài mà còn phát sinh đối với các DN trong nước, chủ yếu lợi dụng chính sách ưu đãi miễn giảm thuế thu nhập DN để giảm tối đa số thuế phải nộp cho Nhà nước.

ÁNH HỒNG thực hiện

Lỗ con, lãi mẹ
Ông H., một chuyên gia lâu năm trong ngành dệt may, cho rằng không phải đến bây giờ tình trạng chuyển giá của các DN FDI trong lĩnh vực dệt may, da giày mới xuất hiện.
Hiện có hai cách chuyển giá phổ biến mà các DN FDI hay áp dụng trong ngành dệt may và da giày. Thứ nhất là đối với sản phẩm hoàn chỉnh. Ví dụ công ty A là công ty mẹ đặt tại Hàn Quốc, có hợp đồng mua bán 100.000 sản phẩm áo sơmi cho một đối tác C đặt tại Mỹ. Giao dịch thanh toán được thực hiện trực tiếp bởi A và C.
Tại VN, công ty A lập ra công ty liên doanh B, hoặc A chỉ cần có vốn góp hoặc cổ phần chi phối tại B. Giá gia công trên thị trường cho một áo sơmi khoảng 1 USD, nhưng công ty A giao cho công ty B giá chỉ 80 cent, kèm theo điều kiện sau khi sản xuất hoàn chỉnh thì xuất thẳng sang cho C với các điều khoản theo quy định thông thường. Với 20 cent chênh lệch này, công ty A vô tư bỏ túi, trong khi toàn bộ chi phí sản xuất, quản lý, tiền lương nhân công, khấu hao...đều do công ty B đảm nhiệm. Rõ ràng nếu được nhận gia công với mức giá thị trường là 1 USD/áo, công ty B sẽ lời được tối thiểu 20 cent/áo, còn đằng này không những làm không công cho A mà công ty B còn phải móc tiền túi ra bù với những chi phí phát sinh khác trong quá trình sản xuất.
Thủ thuật thứ hai dành cho các loại nguyên phụ liệu, vật tư. Cách này tương tự như đối với sản phẩm hoàn chỉnh, thường xảy ra trong ngành dệt sợi. Theo phân tích của ông H., để sản xuất ra vải thì cần phải nhập sợi và hóa chất. Cũng theo cách chỉ định công ty nhập khẩu nguyên liệu, vật tư với giá cao hơn giá thị trường, công ty liên doanh lập ra tại VN bắt buộc phải nhập và “è cổ” ra sản xuất cho công ty mẹ đặt tại nước ngoài hưởng lợi. Thông thường các loại nguyên liệu vật tư chiếm 70% giá trị sản phẩm thành phẩm, nên mức lãi của các công ty mẹ không hề nhỏ chút nào.
 
TRẦN VŨ NGHI

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

Bí quyết của “Vua hồ tiêu” Việt Nam

Doanh nhân đứng đầu thị phần xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đúc kết bí quyết thành công: Đơn giản thôi: Chào hàng + Chất lượng + Công cụ + Chăm chỉ! Đi và “chơi” cùng đối tác vừa và nhỏ !
 
Trong bối cảnh hàng loạt DNVVN Việt Nam gặp khó khăn buộc phải đóng cửa, co hẹp hoạt động…, thì câu khẳng định “chắc như đinh đóng cột” nói trên hẳn sẽ bị nhiều người cho là… nói đùa.

Nhưng đây chính xác là câu nói tâm huyết của Phan Minh Thông - vị CEO trẻ tuổi của CTCP Phúc Sinh - một DN tưởng chừng “bé hạt tiêu”, nhưng đã liên tục đứng đầu thị phần xuất khẩu hồ tiêu của VN trong 5 năm gần nhất, và hiện đang chiếm 6% thị phần xuất khẩu hồ tiêu thế giới, đồng thời chiếm 15-17% thị phần xuất khẩu hồ tiêu VN ra toàn thế giới.

    Điều gì đã khiến Phúc Sinh đạt được thành tựu đó, và giúp doanh nhân Phan Minh Thông  tự tin đến vậy ? Cuộc trò chuyện giữa TGĐ Phúc Sinh và DĐDN chia sẻ bí quyết này.
     
    Công thức kinh doanh : 4C
    Trước hết, anh có thể giới thiệu vắn tắt đôi chút về lịch sử của Phúc Sinh ?
    Tôi bắt đầu khởi nghiệp Phúc Sinh ban đầu là Cty TNHH từ năm 2001. Trong khoảng 5 năm kể từ khi thành lập, Phúc Sinh chuyên về xuất khẩu hạt tiêu. 5 năm đó, chúng tôi học hỏi được nhiều điều để 6 năm sau, “leo” lên vị trí thứ 1 trên thị trường xuất khẩu tiêu của VN. Điều làm chúng tôi tự hào là Phúc Sinh rất bé, vốn điều lệ thuở ban đầu chỉ vỏn vẹn 800 triệu đồng, sau tăng lên 26 tỉ đồng và hiện là 45 tỉ đồng. Nhưng như vậy vẫn là quá bé so với những DN trong cùng ngành hàng, những DN quốc doanh có vốn liếng và hạn mức tín dụng lên tới hàng nghìn tỉ đồng, hay một loạt Cty nước ngoài đang tham gia lĩnh vực này ở VN.
     
    Vậy điều mà anh học được để Phúc Sinh tiến lên vị trí số 1 là gì ?
    Chúng tôi học được nhiều thứ, đặc biệt là làm thế nào để bán được hàng. Theo tôi, bí quyết chính nằm ở khâu marketing – chào hàng. Cần hiểu marketing không phải là cứ đi một đoàn người, liên tục quảng bá về sản phẩm của mình. Tôi nhận thấy rằng muốn ra thị trường nước ngoài, người bán hàng phải hiểu văn hóa của người mua, nhu cầu của họ. Ngoài ra, chúng tôi còn có sự đầu tư rất nghiêm túc để nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều này hỗ trợ lớn cho việc quảng bá và bán buôn sản phẩm tới tay khách hàng.
     
    Ai cũng nói về việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Cụ thể thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản được Phúc Sinh thực thi ra sao ?
    Tại Phúc Sinh, chúng tôi đầu tư 4 nhà máy, chăm chút, tuyển chọn hàng hóa đầu vào đến từng công đoạn để cho ra sản phẩm, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng với chất lượng tốt nhất. Tùy thuộc vào ý muốn khách hàng mà Phúc Sinh giao hàng theo chất lượng, giá cả. “Tiền nào của nấy” mà. Chúng tôi có phòng thí nghiệm và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng 17025 và nhà máy sản xuất hoạt động theo tiêu chuẩn ISO 22000. Chúng tôi cũng có phòng thử nếm chế cà phê và chính tôi đã phải học cách thử nếm cà phê như một nhà trader cà phê chuyên nghiệp. Đôi khi ra nước ngoài các khách hàng bất thần muốn thử xem mình “có nghề” hay không, bằng cách thử “cup” cà phê này.
    Hiện tại, Phúc Sinh cũng là một trong bốn Cty tại VN đang có nhà máy tiêu tiệt trùng. Hai trong số đó là nhà máy của DN Hà Lan và Mỹ, nhà máy còn lại của Tập đoàn Singapore. Trong quá trình các tập đoàn thế giới đến kiểm soát, đánh giá, chúng tôi luôn đảm bảo đạt điểm tối đa.
     
    Nhưng anh có thể chia sẻ tại sao đang rất vững chân ở hồ tiêu, Phúc Sinh lại “lấn” qua cà phê ?
    Dĩ nhiên. Khi đã nắm bắt, làm chủ công thức kinh doanh của mình một cách hữu dụng, chúng tôi muốn làm thêm các mặt hàng khác. Cà phê là một thị trường lớn và sản lượng xuất khẩu hàng năm lên đến hàng triệu tấn. Tại VN, các văn phòng đại diện quốc tế hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu cà phê cũng đông hơn. Mặt khác, tại VN, sản lượng cà phê Robusta lại lớn nhất thế giới nên nếu bỏ qua lĩnh vực cà phê thì đó sẽ là thiệt thòi không nhỏ cho bất kỳ DN kinh doanh nông sản nào ở VN.
     
    Thực sự tôi chưa hiểu vì sao việc xuất khẩu cà phê của Phúc Sinh lại thuận lợi, ngay cả trong bối cảnh kinh tế toàn cầu trở nên xấu hơn, và các DN cà phê đầu ngành của VN thua lỗ nặng nề. Hẳn vẫn có bí quyết nào anh còn dấu ?
    Hai năm gần đây chúng tôi xuất khẩu cà phê trên 20 nghìn tấn/năm. Và chúng tôi sử dụng các công cụ để hỗ trợ và bảo đảm/thắng giá. Đương nhiên, cũng phải kết hợp các công cụ khác như vốn, kiến thức trong giao dịch hàng hóa thật và hàng hóa qua sàn quốc tế. Thường thì các công cụ này không có tổ chức nào dạy chi tiết cho mình, mà DN phải tự tìm kiếm, trải nghiệm, tự rút ra các cách sử dụng cho riêng mình. Tôi đã chăm chỉ học hỏi, “mài mòn quần” ở hàng chục quán cà phê, quán nước, quán nhậu với các đối tác, khách hàng là những tổ chức bậc thầy về việc dẫn giá trên thị trường quốc tế, để học các chiêu của họ.
     
    Nói như vậy, có thể đúc kết công thức kinh doanh của anh ?
    Đơn giản thôi: Chào hàng + Chất lượng + Công cụ + Chăm chỉ !
    Đi và “chơi” cùng đối tác vừa và nhỏ !
     
    Theo anh, thách thức với XK cà phê Việt Nam nói chung hiện nay là gì ?
    Nhiều DN vẫn biết về các công cụ để bảo đảm/thắng giá trong giao dịch, nhưng sử dụng nó đúng lúc, đúng chỗ, và làm thế nào để quản trị dòng tiền, quản lý rủi ro lẫn lòng tham của chính mình là một câu chuyện khác. Quan trọng hơn, các DN ở ta thường có xu hướng… ngồi yên. Tôi cho rằng phải đi, phải tự mình vươn ra thế giới không thông qua bất kỳ ai. Năm đầu Phúc Sinh làm cà phê, nhiều người tiên đoán sẽ phá sản. Các văn phòng đại diện “xây tường” quanh Phúc Sinh. Chúng tôi khẳng định : Chúng tôi sẽ đục bỏ bức tường đó và bước ra thế giới. Và chúng tôi làm được.
     
    Những kinh nghiệm, mạng lưới, quan hệ ở thị trường hồ tiêu cũng là lợi thế hỗ trợ để anh đẩy mạnh XK cà phê ?
    Cà phê là thị trường quá lớn và chỉ có cà phê, trong khi tiêu thì có thể thêm các gia vị như hồi, quế… Bản thân Phúc Sinh muốn đầu tư vào cà phê cũng không thể tận dụng mạng lưới đã có. Hơn nữa, nếu anh đứng số 1 về hạt tiêu, chưa chắc anh đã trụ lại được trên thị trường cà phê. Vấn đề là chúng tôi hiểu rất nhanh nếu chỉ bán cho các văn phòng đại diện tại VN thì DN chỉ có đi vào đường chết. Cũng như hồ tiêu, khi bán cà phê, tôi tìm các nhà sản xuất vừa và nhỏ trên khắp thế giới, họ đặt hàng số lượng ít nhưng đều đặn và liên tục. Họ có thể cho giá tốt hơn nhiều so với các DN tập đoàn lớn, thanh toán linh động hơn. Đây thực sự là con đường lớn để có thể đi. Nhìn chung, nếu các DNVVN VN theo cung cách này, tôi cho rằng đường đi ra thế giới vẫn còn rất rộng !
     
    Vậy Phúc Sinh có phải trả giá nào cho sự “hiểu rất nhanh” khi bước vào làm cà phê nhân XK ?
    Năm đầu chúng tôi lỗ 500.000 USD, tương đương 10 tỉ. Nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm làm. Cứ làm thì nó vỡ ra. Vấn đề là trong quá trình làm mình không ngừng học hỏi. Đồng thời không được ỷ lại vào công cụ quản lý rủi ro, đặc biệt trong vấn đề điều hành, điều phối việc buôn bán cà phê. Không nên xem đó là công cụ thần tiên.
     
    Dù thế nào thì dường như thị trường hồ tiêu cũng vẫn có sự cạnh tranh so với thị trường cà phê ?
    Hoàn toàn đúng. Nhưng chính xác hơn là trước đó đã có sự cạnh tranh tới mức hàng loạt văn phòng đại diện nước ngoài về hồ tiêu tại VN phải phá sản. Một năm, cà phê biến động 400 - 500 USD/ tấn thì năm ngoái, hàng hồ tiêu có mức biến động đến 3.800 USD/ tấn. Nếu tính toán sai thì độ thua lỗ sẽ thế nào ? Nhưng phải nói rằng dù bản chất thị trường là cạnh tranh khốc liệt, trong mọi giai đoạn Phúc Sinh đều không ngại cạnh tranh, cũng không xem các DN khác là đối thủ. Phương châm của chúng tôi là luôn liên kết với DN VN, cùng tiến !
     
    Vậy anh tìm kiếm khách hàng là những DNVVN khắp nơi trên thế giới như thế nào ?
    Tôi thường xuyên đăng ký các hội chợ chuyên ngành. Có hàng chục hội chợ như thế diễn ra trên toàn thế giới trong mỗi năm. Mỗi hội chợ đều tụ họp rất đông đảo các DNVVN. Chi phí tham dự hội chợ thường khá đắt. Trước đây, nhiều DN Việt do không biết thông tin nên không đăng ký tham dự. Vả lại cũng không có nhiều DN muốn đầu tư. Bắt đầu từ năm ngoái, thông qua Hiệp hội hồ tiêu VN, tôi đã chia sẻ tất cả những thông tin mình có về các hội chợ chuyên ngành trên thế giới. Mỗi năm, chi phí để tham dự các hội chợ thương mại của Phúc Sinh ước tính khoảng 200.000 USD và hiện nay vẫn không ngừng tăng theo doanh số xuất khẩu. Có lẽ nhờ vậy mà năm 2010, Phúc Sinh đã trở thành DN đầu tiên của VN được Hiệp hội xuất khẩu hồ tiêu thế giới bình chọn là Nhà xuất khẩu xuất sắc về hồ tiêu và các sản phẩm hồ tiêu có giá trị gia tăng.
     
    Xin hỏi anh câu cuối : Đích đến, cũng như điều mà anh mong đợi nhất khi tham gia thị trường cà phê ?
    Với hồ tiêu, chúng tôi đặt mục tiếp tục nắm giữ vị trí số 1 đã được khẳng định trong suốt 5 năm qua. Với cà phê, năm tới, mục tiêu của Phúc Sinh là tăng số lượng hàng xuất khẩu lên khoảng 40.000 tấn/năm. Bên cạnh đó, chúng tôi luôn mong muốn Hiệp hội các nhà xuất khẩu cà phê VN sẽ có sự chủ động, đấu tranh bằng mọi phương thức sao cho các Trung tâm giao dịch cà phê lớn nhất của thế giới phải tính đến chuyện đặt kho hàng cà phê Robusta tại VN. Khi các kho hàng không đặt tại VN, DN Việt mất đi rất nhiều lợi thế.  Ngoài ra, tôi cũng nghĩ, và nhắm tới việc làm thế nào để mở ra, nhân rộng một trường đào tạo chuyên về giao dịch hàng hóa nông sản, căn cứ trên thực tiễn giao dịch chứ không phải trên sách vở như một số đơn vị giao dịch hàng hóa đã làm.  Thật vô lý khi chúng ta có sản lượng Robusta lớn nhất thế giới, có khối lượng hàng xuất năm rất lớn ra thị trường quốc tế, mà những điều cơ bản đó chúng ta lại chưa xây dựng được !
     
    Doanh nhân Phan Minh Thông sinh năm 1975. Anh tốt nghiệp ĐH Ngoại thương Hà Nội và khởi nghiệp bằng vị trí “chạy bàn giấy” ở một Cty chuyên xử lý nước thải Nhật Bản. Một năm sau, anh “Nam tiến”, ứng cử vào vị trí nhân viên phòng xuất khẩu ngành hàng hồ tiêu của Pitco – DN vừa được thành lập trước đó 3 tháng, trực thuộc TCty Petrolimex. Sau khi “set up” hệ thống xuất khẩu hồ tiêu cho Pitco, anh rời Cty nhà nước và chính thức khởi sự kinh doanh với số vốn ban đầu hoàn toàn từ vay mượn. Anh cho biết, kinh nghiệm bán hàng từ năm 10 tuổi tại một cửa hàng khô của gia đình, với dòng máu kinh doanh có sẵn từ tấm bé của người Hải Phòng – miền đất giao thương buôn bán, và bên cạnh đó là một khả năng chịu khó, chịu học, cộng các kỹ năng mềm chính là “thế mạnh” của anh.


Theo DĐDN

Lượm bạc cắc, kiếm nghìn tỷ

Một công ty bán kẹo cao su đạt doanh thu 1.500 tỷ đồng/năm ở thị trường Việt Nam, con số mơ ước của nhiều doanh nghiệp trong thời khủng hoảng.
 

    Cách đây 18 năm, Công ty cổ phần Phú Trường quốc tế bắt đầu phân phối độc quyền các sản phẩm kẹo cao su thương hiệu Wrigley của Mỹ tại Việt Nam. Công ty chỉ bán 5 loại kẹo cao su và 2 loại kẹo thông thường của Wrigley. Thế nhưng, theo ông Hoàng Văn Minh, đại diện Phú Trường quốc tế, năm 2011, doanh thu các loại kẹo cao su ở thị trường Việt Nam mà công ty phân phối đạt 1.500 tỷ đồng.
     
    Để đạt được con số doanh thu “khủng” như vậy, Phú Trường quốc tế tập trung đầu tư vào hệ thống phân phối 700.000 cửa hàng tận các thôn ấp vùng sâu vùng xa và có khoảng 2.000 công nhân, nhân viên bán hàng trong cả nước. Đây được xem là công ty có nhiều cửa hàng nhất trong ngành hàng tiêu dùng nhanh ở Việt Nam.
     
    Hiện các sản phẩm của Wrigley như Doublemint, Coolair, Extra, Juicy Fruit… do Phú Trường quốc tế phân phối phải nhập từ Philippines, sau đó đóng gói tại hai nhà máy ở tỉnh Long An và Bắc Ninh. Vào năm 2013, Wrigley sẽ xây một nhà máy ở khu công nghiệp Mỹ Phước 3, tỉnh Bình Dương. Khi đó, kẹo cao su Wrigley ở Việt Nam sẽ không nhập khẩu từ Philippines nữa mà còn xuất qua nước khác.
     
    Các cửa hàng bán kẹo cao su như thế này rất phổ biến ở Việt Nam.
     
    Theo ông Minh, gọi là cửa hàng nhưng đa phần là tủ thuốc lá ven đường, các tiệm tạp hóa nhỏ. Wrigley cũng có mặt trong các kênh bán hàng hiện đại như siêu thị. Ở các nước, kẹo cao su chủ yếu bán trong các kênh phân phối hiện đại nhưng ở Việt Nam có tới 70% sản lượng bán thông qua các kênh truyền thống. Mặc dù giá của một sản phẩm kẹo cao su chỉ khoảng 3.000 đồng, nhưng một cửa hàng nhỏ ven đường có thể bán được 500.000 đồng/tháng.
     
    Làm gì để quản lý hiệu quả một mô hình phân phối rộng lớn như vậy? Ông Minh cho biết công ty phân chia cho mỗi nhân viên bán hàng chịu trách nhiệm khoảng 400-700 cửa hàng trên một địa bàn cụ thể. Năm 2011, Phú Trường quốc tế tiêu thụ khoảng 37 triệu hộp kẹo cao su ở Việt Nam nhưng dự kiến giảm 20% doanh thu trong năm nay vì sản phẩm có tăng giá hồi năm ngoái, đồng thời chịu tác động của khủng hoảng kinh tế.
     
    “Kẹo cao su không phải là sản phẩm tiêu dùng thiết yếu, nên người mua cũng hạn chế bỏ tiền mua nếu khó khăn”, ông Minh nói. Ở Đông Nam Á, Việt Nam là thị trường tiêu thụ kẹo cao su lớn nhất, hơn những nước đông dân khác như Indonesia, Philippines, Thái Lan. Ở châu Á, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc (mức tiêu thụ của Trung Quốc gấp 10 lần Việt Nam).
     
    Theo lý giải của ông Minh, thành công của các sản phẩm Wrigley là nhờ Phú Trường quốc tế vào thị trường này từ sớm, chất lượng sản phẩm tốt và nhất là tổ chức hệ thống phân phố rộng khắp. Phú Trường quốc tế chiếm 80% thị phần kẹo cao su ở Việt Nam. Bản thân thương hiệu Wrigley đã nổi tiếng vì du nhập vào Việt Nam từ trước năm 1975.

Theo Thanh niên

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2012

Bầu Kiên - Siêu đại cao thủ thâu tóm ngân hàng

Thành lập ba công ty với chức năng, ngành nghề đăng ký kinh doanh không liên quan đến đầu tư tài chính nhưng ông Nguyễn Đức Kiên đã sử dụng pháp nhân của các công ty này tham gia phát hành trái phiếu, đầu tư tài chính (trong đó có mua cổ phiếu ngân hàng) sai quy định.

Tòa nhà 57B Phan Chu Trinh (Q.Hoàn Kiếm, Hà Nội) theo giấy phép kinh doanh là nơi đặt văn phòng của Công ty CP đầu tư ACB Hà Nội và Công ty TNHH đầu tư tài chính Á Châu - Ảnh: NGUYỄN KHÁNH


Theo công bố của Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an, việc khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Nguyễn Đức Kiên về hành vi “kinh doanh trái phép” do xác định bị can này có một số hành vi vi phạm pháp luật xảy ra tại ba công ty gồm: Công ty cổ phần đầu tư thương mại B&B, Công ty cổ phần đầu tư ACB Hà Nội và Công ty TNHH đầu tư tài chính Á Châu. Được biết, các công ty này đều do ông Nguyễn Đức Kiên thành lập với số vốn điều lệ “hoành tráng”.

Thành lập ba công ty có vốn điều lệ 2.300 tỉ đồng

Theo nguồn tin riêng của Tuổi Trẻ, trong số ba công ty liên quan đến sai phạm của ông Kiên gồm Công ty CP đầu tư ACB Hà Nội, Công ty TNHH đầu tư tài chính Á Châu và Công ty CP đầu tư thương mại B&B, hiện có hai công ty tham gia nắm giữ cổ phần tại Eximbank. Cụ thể, đến ngày 13-8, Công ty CP đầu tư thương mại B&B nắm giữ gần 1,99% và Công ty TNHH đầu tư tài chính Á Châu nắm giữ khoảng 2,01% vốn cổ phần Eximbank. Như vậy, cùng với 0,21% vốn cổ phần Eximbank dưới tên mình, ông Nguyễn Đức Kiên vẫn chưa phải là cổ đông lớn của Eximbank như ông này từng tuyên bố.
HẢI ĐĂNG
Theo giấy phép đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch - đầu tư cấp thì Công ty CP đầu tư thương mại B&B có trụ sở kinh doanh tại số 63 Lương Sử C, P.Văn Chương, Q.Đống Đa, Hà Nội, với vốn điều lệ là 1.500 tỉ đồng. Công ty đăng ký kinh doanh từ ngày 8-12-2008. Ngành nghề đăng ký kinh doanh gồm quảng cáo và nghiên cứu thị trường; kinh doanh vàng bạc đá quý (không bao gồm xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu); xây dựng dân dụng công nghiệp, xây dựng nhà ở, kho bãi đỗ xe. Công ty có ba cổ đông sáng lập là bà Nguyễn Thúy Hương, ông Nguyễn Đức Kiên và bà Đặng Ngọc Lan. Trong đó ông Kiên góp 990 tỉ đồng (66%), làm chủ tịch HĐQT.


Ngày 21-3-2008, ông Kiên thành lập Công ty TNHH đầu tư tài chính Á Châu với số vốn 500 tỉ đồng do hai thành viên góp vốn là ông Nguyễn Đức Kiên (chiếm 99% vốn góp) và bà Nguyễn Thúy Hương, trụ sở chính đặt tại 57B Phan Chu Trinh, P.Phan Chu Trinh, Q.Hoàn Kiếm, Hà Nội. Theo giấy phép đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch - đầu tư Hà Nội cấp lại ngày 12-3-2012, 10 ngành nghề đăng ký kinh doanh gồm: kinh doanh khách sạn, nhà hàng ăn uống; xây dựng và kinh doanh sân golf; xây dựng giao thông, cầu đường, dân dụng và công nghiệp; quản lý tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp; đại lý thu đổi ngoại tệ; xuất nhập khẩu vàng trang sức; mua bán vàng bạc đá quý...

Ngày 10-11-2006, ông Kiên thành lập Công ty cổ phần đầu tư ACB Hà Nội, trụ sở cùng đặt tại 57B Phan Chu Trinh, Hà Nội, có vốn điều lệ 300 tỉ đồng do ba cổ đông đóng góp là ông Nguyễn Đức Kiên, ông Huỳnh Vân Sơn và ông Trần Ngọc Thanh. Bản thân ông Kiên góp vốn 70% và giữ chức chủ tịch HĐQT. Công ty này do ông Trần Ngọc Thanh làm giám đốc với tám ngành nghề kinh doanh gồm đầu tư xây dựng và kinh doanh khu thể thao, sân golf, sân tennis, hồ bơi; đầu tư và kinh doanh khu du lịch, khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ; kinh doanh vàng; quản lý bất động sản; môi giới, đấu giá bất động sản, nhà đất...

Như vậy, tổng vốn điều lệ của ba công ty này lên đến 2.300 tỉ đồng, đều đặt dưới quyền chỉ đạo hoạt động của ông Kiên.



Lập phương án kinh doanh “khống” để vay tiền

Mặc dù cả ba công ty nói trên không có chức năng đầu tư tài chính nhưng ông Nguyễn Đức Kiên vẫn sử dụng pháp nhân của chúng để tham gia vào lĩnh vực tài chính. Với khoản vốn điều lệ khổng lồ và uy tín của mình trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, ông Kiên đã xây dựng nên hình ảnh những công ty mạnh về kinh tế, khả năng kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao. Từ đó, ông Kiên lập các phương án kinh doanh lớn nhằm nâng giá trị tài sản của công ty lên, tạo ra uy tín về mặt tài chính. Hiện cơ quan điều tra tình nghi những phương án kinh doanh này đều là phương án “khống” được vẽ ra để lấy lòng tin của khách hàng, ngân hàng khi tham gia đầu tư vào công ty của ông Kiên cũng như để ông Kiên sử dụng trong việc đầu tư tài chính trái phép.

Sau khi xây dựng hình ảnh, uy tín cho những công ty do mình “đẻ” ra, vào năm 2008 và 2010, ông Kiên nhiều lần phát hành trái phiếu của các công ty này, bán cho ngân hàng thu về hàng trăm tỉ đồng. Khoản tiền này ông Kiên giao cho người thân trong gia đình sử dụng để mua lại cổ phiếu của nhiều ngân hàng khác. Sau khi mua được cổ phiếu các ngân hàng khác, ông Kiên sử dụng chính số cổ phiếu này để thế chấp vay tiền ở ngân hàng mà mình đã bán trái phiếu để lấy tiền hoàn trả cho ngân hàng và sử dụng vào các mục đích cá nhân khác. Cơ quan điều tra tình nghi các khoản tiền mà ông Kiên đã vay mượn ngân hàng dưới hình thức như trên lên đến cả nghìn tỉ đồng. Hành vi này bị xác định là “kinh doanh trái phép” do những công ty của ông Kiên lập ra đều không có chức năng kinh doanh, đầu tư tài chính.

MINH QUANG - LÊ THANH - NGA LINH

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Đồ hiệu thu hút khách bằng giá đắt

Hơn 1.000 Euro một chiếc áo phông rách hiệu Balmain, 120.000 Euro một đôi giày hở gót gắn kim cương hiệu House of Borgezie… Có vẻ như các tín đồ hàng hiệu không ngại trả bất kỳ một mức giá nào để sở hữu sản phẩm của các nhà mốt danh tiếng.
“Người tiêu dùng hàng xa xỉ thường có xu hướng quên đi vấn đề về giá. Họ muốn thứ tốt nhất. Họ muốn thứ mà họ muốn”, ông Michel Chevalier, tác giả cuốn sách Luxury Brand Management (tạm dịch: Quản trị thương hiệu cao cấp), nhận xét.

Đó chính là lý do vì sao mà các thương hiệu đắt nhất, được gọi là xa xỉ tuyệt đối, như Hermes Van Cleef & Arpels, hay Bottega Veneta, đều đang tăng trưởng với tốc độ mạnh mẽ nhờ nhu cầu của các thị trường mới nổi, nhất là Trung Quốc, như thể cuộc khủng hoảng tài chính chưa từng quét qua thế giới.

Theo nghiên cứu của hãng Bain, thị trường hàng xa xỉ tuyệt đối đang tăng trưởng với tốc độ bình quân 6% mỗi năm từ năm 2000 đến nay, vượt mức tăng của thị trường hàng hiệu nói chung. Phân khúc này hiện chiếm 40 tỷ Euro trong thị trường hàng hiệu nói chung trị giá 191 tỷ Euro, đồng thời được dự báo sẽ còn tăng trưởng mạnh hơn các phân khúc khác cho tới hết năm 2014.

“Nguồn cung của những sản phẩm này là hạn chế. Đó là cơ hội tuyệt vời để đẩy giá lên”, nhà phân tích hàng cao cấp Thomas Chauvet của Citigroup nhận định về hàng xa xỉ tuyệt đối, chẳng hạn rượu cognac và champagne sản xuất từ một khu vực nhỏ hẹp của nước Pháp.

Các nhà phân tích cho biết, giá cả trên thị trường đồ hiệu đã tăng liên tục từ năm 2001-2011 và sẽ còn tăng mạnh hơn giá cả nói chung. Chuyên gia Thomas Mesmin tại công ty Cheuvreux ước tính, giá cả các sản phẩm thời trang và đồ da hiệu đã tăng 62% trong khoảng thời gian trên, còn giá các mặt hàng đồng hồ và nữ trang tăng 78%. Trong khi đó, trong 11 năm này, lạm phát ở khu vực Eurozone chỉ đạt mức 26%.

Phần lớn mức tăng của giá đồ hiệu diễn ra trước năm 2008. Tuy nhiên, kể từ nửa sau của năm 2010, giá cả các mặt hàng xa xỉ lại tăng tốc trở lại. Cheuvreux ước tính, giá đồ hiệu nói chung đã tăng 7% trong năm 2011. Giá các mặt hàng rượu champagne, đồ da, nữ trang… đặc biệt tăng mạnh trong 2 năm trở lại đây.

Chẳng hạn, một chiếc đồng hồ hiệu Hermes Cape Cod có giá 1.300 Euro vào năm 2009 hiện được bán với giá 2.200 USD. Một chai rượu Moët & Chandon Imperial Rosé có giá 60 USD vào năm 2010 hiện có giá 75,99 USD.

LVMH, hãng đồ hiệu lớn nhất thế giới, tỏ thái độ đặc biệt kiên quyết khi tăng giá các sản phẩm Louis Vuitton và rượu champagne tới 15% trong năm 2011. Chauvet cho rằng, việc tăng giá có hệ thống ở LVMH đóng góp 1/3 tổng tăng trưởng doanh thu của hãng này.

Một nhà phân tích tiết lộ rằng, năm nào LVMH cũng băn khoăn về mức giá tối thiểu đối với những chiếc túi xách Louis Vuitton, lo rằng giá cao quá thì sẽ mất khách, mà giá thấp thì bằng “bán rẻ” thương hiệu.

“Mức giá tối thiểu của Louis Vuitton luôn được cân nhắc hết sức kỹ lưỡng. Họ nói với tôi rằng, đó là quyết định quan trọng nhất mà họ đưa ra hàng năm”, nhà phân tích này cho biết.

Chiến lược giá này trái ngược với những gì đang diễn ra ở lĩnh vực thời trang bình dân, nơi những thương hiệu như Gap đưa ra những mức giảm giá lớn để hấp dẫn người tiêu dùng và giữ tăng trưởng doanh thu.

Giá hàng xa xỉ còn có thể tăng thêm nữa nếu giá các loại da, trong đó có da cá sấu, tăng thêm trong năm nay do ảnh hưởng của thời tiết khô hạn ở vùng Midwest của Mỹ, giống như tác động của thời tiết bất lợi ở Australia vào năm ngoái.

Trên thực tế, biến động giá hàng hóa cơ bản đầu vào chỉ có tác động nhỏ tới giá đồ hiệu. Những thương hiệu đình đám nhất như Louis Vuitton, các hãng rượu champagne hàng đầu, Hermes, Chanel… đều đang có mức tỷ suất lợi nhuận hoạt động 40-50% và lợi nhuận gộp trên 60%. Bởi vậy, họ sẵn sàng có thể chấp nhận mức tăng giá đầu vào nếu họ muốn.

Tỷ suất lợi nhuận sẽ càng tăng thêm nếu các hãng đồ hiệu rút sản phẩm của họ ra khỏi các siêu thị và mở các cửa hiệu riêng, hưởng tỷ suất lợi nhuận bán lẻ có thể cao gấp 2,5 lần so với giá bán buôn sản phẩm. Khi đó, các hãng đồ hiệu cũng có thể bảo vệ thương hiệu của mình khỏi những đợt giảm giá thường xuyên diễn ra.

“Chẳng ai muốn mua một thứ gì đó độc và đắt, để rồi 3 tháng sau đó lại thấy mặt hàng đó bị giảm giá còn có một nửa. Điều này làm giảm uy tín của một thương hiệu. Mà sự sang trọng có liên quan nhiều tới quan niệm”, ông Fflur Roberts, chuyên gia về thị trường hàng hiệu của hãng nghiên cứu Euromonitor, nhận xét.

Vấn đề mà các nhà bán lẻ đồ hiệu đang phải đối mặt lúc này là nên tăng giá với tần suất như thế nào, nhất là ở Trung Quốc, nơi giá hàng hiệu đã cao gấp rưỡi so với ở châu Âu do phải gánh nhiều loại thuế. Khoảng cách giá như vậy là không bền vững và có thể khiến người tiêu dùng Trung Quốc cảm thấy là họ đang bị “bóc lột” ngay trên thị trường của chính mình. Hiện du khách Trung Quốc đã đóng góp 1/3 doanh số của các cửa hàng đồ hiệu tại Pháp.

Câu trả lời có vẻ như là các hãng đồ hiệu sẽ không tăng giá ở thị trường nước ngoài mà sẽ tăng giá ở thị trường trong nước. Theo chuyên gia Chauvet, LVMH có thể tăng giá 10% tại thị trường châu Âu trong mùa thu này, để tạo ra sự cân bằng hơn với giá tại thị trường Trung Quốc.

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2012

Khi nào thương mại điện tử Việt Nam tỉnh giấc?

Việt Nam là một trong những thị trường thương mại điện tử lớn ở châu Á với lượng người tiêu dùng trẻ đông đảo, nhưng thị trường này vẫn còn đang "say giấc", bài viết mới đây trên tờ Bangkok Post của Thái Lan cho hay.

Theo bài báo, những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc thúc đẩy việc sử dụng Internet và thương mại điện tử trong suốt thập niên vừa qua, đã giúp "dân số" lĩnh vực này tăng lên. Việc mua bán trực tuyến đã trở nên phổ biến trên các mảng hàng hóa và dịch vụ như vé máy bay, tour du lịch, đặt phòng khách sạn, hàng điện tử, điện thoại di động, máy tính, sách vở, hoa và nước hoa.

Việc thanh toán và vận chuyển cũng đã trở nên thông thoáng hơn, đáp ứng được nhu cầu của người mua, dù khá nhiều người trong đó vẫn còn chưa có thẻ tín dụng. Các hình thức thanh toán ở Việt Nam hiện khá đa dạng, từ chi trả trực tuyến, chuyển khoản ngân hàng cho tới trực tiếp trao tiền khi nhận hàng từ tay người bán.

Hiện ở Việt Nam, một phần ba dân số đang sử dụng Internet và khoảng 60% trong đó lên mạng tìm kiếm thông tin về các sản phẩm trước khi quyết định mua hàng. Quá trình thâm nhập của Internet ở Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng nhanh nhất ở châu Á, với tỷ lệ trung bình hàng năm trong giai đoạn từ 2000 đến 2010 là 20%.

Bangkok Post dẫn kết quả một cuộc thăm dò do Bộ Công Thương tổ chức gần đây cho thấy, trong số 3.400 doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trên toàn quốc tham dự điều tra, có tới 60% đơn vị chấp nhận phương thức kinh doanh B2B (trong đó 95% chấp nhận đơn đặt hàng trực tuyến). 1/3 số doanh nghiệp nói rằng, thương mại điện tử chiếm từ 15% trở lên tổng thu nhập của họ.

Hiện giao dịch thương mại điện tử chiếm 2,5% GDP của Việt Nam, tương ứng với gần 2 tỷ USD và dự kiến sẽ đạt tới 6 tỷ USD vào năm 2015, báo trên cho hay.


Xu hướng mua bán trực tuyến của người tiêu dùng Việt Nam so với Thái Lan, Singapore, Malaysia và Philippines.

Tuy nhiên, Bangkok Post nhận định, bất chấp tiềm năng lớn như vậy, tăng trưởng thương mại điện tử ở Việt Nam đang bị kiềm chế. Sự thiếu tin tưởng vào việc mua bán trên mạng cũng như việc thanh toán tiền hàng trực tuyến đã trở thành thách thức chính khiến thương mại điện tử ở Việt Nam chưa thể nào thực sự cất cánh.

Theo ông Nguyễn Thanh Hưng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, các yếu tố từng kìm hãm thương mại điện tử vài năm trước, như hạ tầng công nghệ thông tin, khung pháp lý, đã được khắc phục. Các rào cản hiện nay là lòng tin của người tiêu dùng, về bảo vệ thông tin cá nhân và bảo vệ người tiêu dùng, về giải quyết tranh chấp trong giao dịch mua bán trực tuyến.

Mặc dầu việc thanh toán hiện có thể đã trở nên dễ dàng nhờ sự hợp tác giữa các trang thương mại điện tử và các ngân hàng, song chúng vẫn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ ở Việt Nam.

Nói là vậy, Bangkok Post cho rằng, nhiều công ty, tập đoàn lớn nước ngoài đã nhìn ra cơ hội kinh doanh to lớn trong ngành công nghiệp mới nổi này ở Việt Nam, quốc gia có gần 90 triệu dân và tầng lớp trung lưu đang ngày một tăng trưởng. Các hãng toàn cầu như Google, Alibaba, Rakutan, eBay và Amazon đang tìm cách tăng cường sự hiện diện của họ tại thị trường Việt Nam.

Tháng 6/2012, Google đã trở thành một thành viên của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam. Hãng dự kiến sẽ xây dựng quan hệ kinh doanh trực tuyến với các thành viên khác. Google cho biết hãng kỳ vọng thu được 30 triệu USD mỗi năm từ thị trường Việt Nam, hướng vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Alibaba và eBay cũng đã chọn đại diện chính thức của họ tại Việt Nam. eBay mua 20% cổ phần trong Peacesoft Solution, đơn vị sở hữu trang chodientu.com, còn Alibaba lại chọn Công ty Cổ phần Đầu tư và Công nghệ OSB làm đại diện ở Việt Nam. Hai đại gia khác là Amazon và Rakuten cũng đang tiến gần tới việc thiết lập quan hệ đối tác hoặc mua cổ phần trong các hãng thương mại điện tử Việt Nam.

Thứ Hai, 13 tháng 8, 2012

Các dấu hiệu nhận biết doanh nghiệp phù phép báo cáo tài chính

10 dấu hiệu dưới đây rất có thể cho thấy DN đã sử dụng thủ thuật kế toán để thổi phồng lợi nhuận.

Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm đang là căn cứ cơ bản để NĐT đưa ra quyết định giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, theo các chuyên gia tài chính, cũng như kinh nghiệm mà thị trường đã trải qua, NĐT cần cảnh giác với những số liệu có dấu hiệu bất thường. 10 dấu hiệu dưới đây rất có thể cho thấy DN đã sử dụng thủ thuật kế toán để thổi phồng lợi nhuận.

    
    1. Lợi nhuận đánh bại thị trường. Nếu một DN bình thường hoạt động ở lĩnh vực không mấy đặc sắc, mà duy trì được lợi nhuận khả quan, thậm chí vượt trội trong môi trường kinh doanh khó khăn, thì các con số ấn tượng cần được đem ra mổ xẻ.
    
    2. Lợi nhuận ấn tượng nhưng không được đối thủ cùng ngành vị nể. Đây là trường hợp của CTCP Dược phẩm Viễn Đông (DVD). Khi cổ phiếu này mới lên niêm yết, ít nhất 3 CTCK lớn có báo cáo đánh giá hoạt động của DVD rất khả quan. Dựa trên thông tin DVD công bố, các CTCK này tính toán EPS dự phóng của cổ phiếu DVD cao nhất nhì trong ngành. Khi cổ phiếu DVD nhận được nhiều lời tán dương từ các chuyên viên phân tích, thì không ít DN cùng ngành dược lại không mấy xem trọng hoạt động kinh doanh của DVD. Thực tế cho thấy, DVD đã sụp đổ.
    
    3. Lợi nhuận nhảy vọt so với cùng kỳ. Hai năm trước khi niêm yết, DVD chỉ đạt lợi nhuận lần lượt 18,5 tỷ đồng và 25,5 tỷ đồng, nhưng vào năm 2009, khi vừa niêm yết, lợi nhuận bất ngờ nhảy vọt lên 109 tỷ đồng. Đáng chú ý, lợi nhuận của DVD xuất phát từ hoạt động sản xuất - kinh doanh chính, chứ không phải từ các thu nhập bất thường như thanh lý tài sản, chuyển nhượng vốn. “Hiện tượng” DVD sau này được giải mã bằng hình thức ghi nhận “doanh thu ảo”.
    
    4. Lợi nhuận ấn tượng công bố trước các đợt phát hành tham vọng. Trong quý III/2010, mặc dù TTCK suy giảm, đa phần CTCK thua lỗ, nhưng CTCK VNDirect (mã VND) công bố lãi 53 tỷ đồng. Thế nhưng, vào quý IV/2010, khi TTCK phục hồi, đa phần CTCK có lãi, thì VND lại công bố lỗ 117 tỷ đồng. Lãnh đạo VND giải thích, thua lỗ có nguyên nhân khách quan là thị trường biến động, nhưng giới phân tích nhìn nhận, con số lợi nhuận khả quan trước đó của VND có thể được công bố để hỗ trợ cho đợt phát hành tăng vốn từ 500 tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng vào cuối năm 2010.
    
    5. Lợi nhuận được tạo ra từ các giao dịch đáng ngờ. Tháng 7/2010, một DN ngành khí đốt đã triệu tập ĐHCĐ bất thường điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận tăng 2,5 lần so với con số được thông qua vài tháng trước đó tại ĐHCĐ thường niên. Khoản lợi nhuận tăng thêm này được tạo ra từ kinh doanh BĐS, nhằm phục vụ cho mục đích tăng vốn. Thực chất, khoản lợi nhuận này được tạo ra bằng một giao dịch chuyển nhượng khá đáng ngờ trong liên minh 3 bên đều liên quan đến chủ tịch HĐQT. “Âm mưu” này sau đó phá sản do TTCK đi xuống, nhưng cũng khiến nhiều NĐT thua lỗ khi tin vào con số lợi nhuận “bánh vẽ”.
    
    6. Các con số lợi nhuận thay đổi chóng mặt. Vào đầu quý II năm nay, CTCP Tập đoàn Dabaco (DBC) gây chú ý khi ĐHCĐ vừa thông qua kế hoạch lợi nhuận 167 tỷ đồng năm 2012, thì hai ngày sau đó, Công ty công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2012 với 204 tỷ đồng lợi nhuận, gấp 4 lần con số lãnh đạo DBC công bố tại ĐHCĐ. Giải thích với báo giới và giải trình với cơ quan quản lý thị trường, ý kiến của lãnh đạo DBC tỏ ra không thống nhất về cách ghi nhận lợi nhuận từ việc chuyển nhượng dự án BĐS.
    
    7. Lợi nhuận gắn với các đợt thanh lý tài sản khả nghi. Các đợt thanh lý tài sản lớn có thể là biện pháp cứu vãn kết quả kinh doanh yếu kém của DN. Đặc biệt, nếu việc thanh lý diễn ra sát thời điểm kết thúc chu kỳ kế toán, thì gần như chắc chắn là DN có ý đồ. Đơn cử, năm 2010, CTCP Nước giải khát Sài Gòn (Tribeco) chuyển nhượng cổ phần tại Tribeco Bình Dương cho một cổ đông lớn là Uni- President vào đúng ngày 30/6. Động thái này giúp Tribeco lãi 44 tỷ đồng trong quý II/2010 và khiến cổ phiếu tăng giá mạnh. Tuy nhiên, đây là quý lãi duy nhất của Tribeco trong 13 quý liên tiếp.
    
    8. Lợi nhuận cao đột biến rơi vào quý I và quý III. BCTC quý I và quý III không yêu cầu phải soát xét, nên các “bùa chú” kế toán nhiều khả năng được DN đem ra áp dụng nhiều nhất.
    
    9. Thay đổi kế toán trưởng liên tục. Chưa kể những lần thay đổi người đại diện pháp luật và tổng giám đốc, trước khi kết thúc năm tài chính 2011, CTCP Nhựa Tân Hóa (VKP) liên tục thay kế toán trưởng. Hai vị trí tổng giám đốc và kế toán trưởng có vai trò quan trọng đối với chất lượng BCTC của DN. Sự thay đổi đột ngột cả hai vị trí này trước thời điểm năm tài chính kết thúc có thể là một dấu hiệu không lành, báo hiệu BCTC có thể bị can thiệp.
    
    10. DN có thể “múa may” lợi nhuận bằng cách thay đổi chính sách bán hàng, cho phép người mua trả chậm để tăng doanh thu. Một kỹ thuật khác là thay đổi các ước kế toán ghi nhận giá trị các hợp đồng tương lai về thời điểm hiện tại.
    
Giang Thanh - Hà My

Kinh doanh nho Trung Quốc lời hơn bán ma túy

Ngày 12-8, ông Trần Văn Dự - phó chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Hậu Giang - cho biết cơ quan này đã kiểm tra và lấy mẫu nho Trung Quốc đội lốt “nho Mỹ” bày bán trên tuyến quốc lộ 1A, thuộc huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
“Trong đợt kiểm tra này, chúng tôi lấy mẫu nho Trung Quốc và truy xuất nguồn gốc xuất xứ, xem xét về vấn đề chấp hành nghĩa vụ thuế và vệ sinh an toàn thực phẩm. Khoảng bốn ngày nữa có kết quả kiểm tra, chúng tôi sẽ xem xét và có biện pháp xử lý” - ông Dự nói.
Theo một cán bộ trong đoàn kiểm tra, hiện trên địa bàn có hàng chục điểm bán ghi “nho Mỹ” nhưng thực chất là nho Trung Quốc. Trên đoạn đường khoảng 10km từ nút giao IC4 cầu Cần Thơ đến Châu Thành A, Hậu Giang xuất hiện vài chục điểm bán “nho Mỹ”.
Kiểm tra về nhãn mác hàng hóa thì đây không phải “nho Mỹ” mà là nho nhập từ Trung Quốc. Giá ghi trong hóa đơn 6.000 đồng/kg, trong khi giá bán 35.000-40.000 đồng/kg. 

Buôn bán với Trung Quốc, Việt Nam ngày một thua thiệt

7 tháng đầu năm nay, cả nước xuất siêu 100 triệu USD nhưng riêng thị trường Trung Quốc lại thâm hụt 8,3 tỷ USD. Tình trạng nhập siêu bắt đầu từ 2001 đang tăng chóng mặt trong 3 năm gần đây.

Câu chuyện thâm hụt thương mại với Trung Quốc bắt đầu được chú ý cách đây hơn 10 năm, khi Việt Nam chuyển từ xuất siêu 130 triệu USD năm 2000 sang nhập siêu gần 200 triệu USD một năm sau đó. Con số này tuy không lớn nhưng liên tục tăng dần trong những năm tiếp theo. Đồng thời, tỷ trọng trong tổng nhập siêu của toàn nền kinh tế ngày một cao.
Nhập siêu từ Trung Quốc so với tổng nhập siêu của Việt Nam giai đoạn. Số liệu: GSO
Nhập siêu từ Trung Quốc so với tổng nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2012. Đơn vị: tỷ USD.(*) Tính đến hết tháng 7/2012. Số liệu: GSO
Đến 2009, thâm hụt với Trung Quốc (11,5 tỷ USD) gần như đã chiếm toàn bộ số chênh lệch giữa xuất - nhập khẩu của Việt Nam (12,2 tỷ USD). Liên tiếp trong vòng 2 năm sau đó, mức chênh lệch này nhanh chóng vượt xa tổng nhập siêu. Sau 7 tháng đầu năm 2012, Việt Nam nhập ròng từ Trung Quốc 8,3 tỷ USD (xuất 7 tỷ USD, nhập khẩu 15,3 tỷ), trong khi cán cân tổng thể vẫn xuất siêu khoảng 100 triệu USD. Với con số này, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam nhưng chỉ đứng thứ 5 về xuất khẩu.
Xuất nhập khẩu của Việt Nam vào các thị trường lớn sau 7 tháng đầu năm 2012. Số liệu: GSO
Xuất - nhập khẩu của Việt Nam với các thị trường lớn sau 7 tháng 2012. Số liệu: GSO
Trong Báo cáo thường niên Kinh tế Việt Nam 2011, Viện Nghiên cứu Kinh tế & Chính sách (VEPR) - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã cảnh báo về thực trạng này. Số liệu VEPR thống kê cho thấy trong khoảng 10 năm gần đây, Việt Nam phần lớn xuất sang Trung Quốc các mặt hàng như nhiên - nguyên liệu (than, cao su, gỗ), thực phẩm (rau - củ - quả, thủy sản)… Trong khi đó, lại nhập khẩu chủ yếu máy móc, sắt thép, hóa chất (phân bón), sợi - nguyên liệu may…
“Soi” lại những mặt hàng này trong 6 tháng đầu năm, số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy tổng kim ngạch xuất khẩu ở hầu hết các nhóm đều giảm khoảng 5 - 30% về cả lượng lẫn giá trị hàng hóa. Riêng xuất khẩu than giảm 32% thì bán cho Trung Quốc (chiếm gần 80% tổng xuất khẩu) giảm 16%. Nhập khẩu nói chung cũng có dấu hiệu chậm lại, các mặt hàng đều giảm 4 - 14%, nhưng lượng nhập từ thị trường Trung Quốc vẫn tăng đều.
Cụ thể, lượng nhập sắt thép giảm 4% nhưng từ thị trường Trung Quốc vẫn đạt hơn một triệu tấn, tăng 22%. Giá trị nhập sợi - nguyên liệu may từ thị trường này thậm chí còn tương đương hơn 2 tỷ USD, tăng nhẹ (0,7%) trong khi giá trị nhập tổng thể giảm hơn 14% so với cùng kỳ. Việt Nam cũng nhập khoảng 2,4 tỷ USD máy móc từ Trung Quốc trong 7 tháng. Con số này tuy có giảm (2%) nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức giảm chung (11,3%) của toàn ngành.
Tìm hiểu về nguyên nhân nhập siêu từ Trung Quốc, các nhà nghiên cứu đều cho rằng, có nhiều lý do, trong đó năng lực sản xuất hàng tiêu dùng chưa đáp ứng đủ nhu cầu, sức cạnh tranh yếu, hiệu quả đầu tư - năng suất lao động yếu, dẫn đến khó khăn trong xuất khẩu để củng cố cán cân thương mại… Quan trọng hơn, do cơ cấu kinh tế chậm chuyển đổi, thiếu công nghiệp phụ trợ, nặng về gia công hiện phải nhập tới 80 - 90% nguyên phụ liệu cho sản xuất, mà chủ yếu là từ Trung Quốc - nơi nguồn cung các mặt hàng này vừa rẻ, lại vừa dồi dào.
Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, những nguyên nhân trên đã dẫn tới tình trạng xuất khẩu của Việt Nam tuy có tăng, nhưng rất nhiều trong số đó là xuất khẩu “hộ” Trung Quốc. Còn việc nhập siêu từ Trung Quốc, bà Chi Lan chỉ ra nguyên nhân đáng lo ngại hơn.
Phân tích của bà Phạm Chi Lan cũng như báo cáo của VEPR cho thấy, lý do quan trọng khiến nhập siêu gia tăng trong những năm gần đây là sự thắng thế liên tục của các nhà thầu Trung Quốc trong các dự án tại Việt Nam. Riêng giai đoạn 2007 - 2010, các doanh nghiệp nước này đã thắng thầu trong ít nhất 5 dự án có tổng vốn đầu tư từ 450 triệu USD trở lên (trong đó có 2 trường hợp vốn trên 2 tỷ USD). Các dự án “ưa thích” của nhà thầu Trung Quốc chủ yếu nằm trong các lĩnh vực công nghiệp thượng nguồn như điện (90% các công trình điện ở Việt Nam hiện nay), khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất, công trình giao thông…
Các dự án lớn Trung Quốc thắng thầu giai đoạn 2007 - 2010
Nhà thầu Trung Quốc ngày càng chiếm ưu thế tại các dự án tại Việt Nam. Ảnh: Xinhua
Nhà thầu Trung Quốc ngày càng chiếm ưu thế tại các dự án tại Việt Nam. Ảnh: Xinhua
Đây chính là lý do khiến máy móc - thiết bị kỹ thuật luôn là một trong những mặt hàng được nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc vào Việt Nam. “Điều này bất lợi hơn nhiều so với nhập nguyên phụ liệu, bởi đa phần máy móc nhập từ Trung Quốc không phải công nghệ nguồn, hoặc đã lạc hậu. Các dự án xây dựng cũng hay chậm tiến độ, có hoàn thành thì chất lượng cũng không cao. Rồi chính người Việt lại phải sử dụng những sản phẩm, công nghệ đó”, bà Lan phân tích.
Một vấn đề khác cũng được chuyên gia này chỉ ra là phần lớn dự án quan trọng ở lĩnh vực điện, giao thông mà phía Trung Quốc đang làm nhà thầu đang sử dụng vốn vay ODA. “Như vậy, vốn giá rẻ mà Việt Nam đi vay, các nước khác giúp đỡ, lại được sử dụng để mua máy móc Trung Quốc, làm lợi cho họ. Điều này sẽ khiến các nhà tài trợ không thực sự hài lòng”, chuyên gia này nhận định.
Trên thực tế, cơ quan quản lý từ lâu cũng đã nhận rõ sự bất hợp lý trong cán cân thương mại 2 nước. Ngay từ năm 2007, Bộ Công Thương đã vạch ra đề án Phát triển xuất nhập khẩu với Trung Quốc giai đoạn 2007 - 2015 với mục tiêu hạn chế dần thâm hụt thương mại. Phát biểu với báo chí gần đây, Nguyễn Thành Biên cũng cho biết giải pháp quan trọng nhất để đạt mục tiêu này là tăng nhanh xuất khẩu, trong đó trước mắt tập trung vào các mặt hàng có lợi thế tự nhiên và lao động. Kế đó (2016-2020), sẽ đẩy mạnh các mặt hàng công nghệ mới có giá trị gia tăng, hàm lượng công nghiệp và chất xám cao…
Tuy vậy, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, trong giai đoạn từ 2007 đến nay, Việt Nam vẫn chưa thành công trong việc hạn chế nhập siêu từ Trung Quốc, thậm chí ngày một thiệt thòi hơn trong giao thương. Nguyên nhân chủ yếu là do các biện pháp được đề ra nhưng chưa được thực hiện một cách nhất quán và kiên định.
Một thực tế khác là các doanh nghiệp Trung Quốc hầu như chỉ thực hiện chiến lược “nhà thầu” chứ rất ngại mở rộng đầu tư vào Việt Nam. Năm 2011, vốn FDI từ Trung Quốc chỉ đạt hơn 800 triệu USD, đứng thứ 14 trong số các quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư (số vốn trong 4 năm trước đó cũng chỉ dao động trong khoảng 360 - 570 triệu USD). Số vốn này khó có thể khỏa lấp thâm hụt thương mại nhiều tỷ USD của Việt Nam trên cán cân thanh toán tổng thể với Trung Quốc.
Theo kết quả nghiên cứu tỷ giá hối đoái giai đoạn 2000 - 2011 và các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), trong giai đoạn 2000 - 2010, tỷ giá thực của đồng Việt Nam đã đắt lên so với đôla Mỹ 25,9%, trong khi con số tương tự của nhân dân tệ với USD là 19,78%. Ngay cả khi tính thêm lần phá giá 9,3% vào năm 2011 thì đồng Việt Nam vẫn đắt lên tương đối so với nhân dân tệ. Điều này khiến cho hàng xuất khẩu của Việt Nam gặp thêm bất lợi trước các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc.
Nhật Minh

Thứ Tư, 8 tháng 8, 2012

Giao dịch bảo hiểm trực tuyến ngày càng nhiều

Không ai có thể phủ nhận được tiện ích của giao dịch trực tuyến, bởi chỉ bằng vài cái click chuột, khách hàng có thể tìm hiểu mọi thông tin và ra quyết định nhanh chóng.
 

    Hệ thống giao dịch trực tuyến của BIC cho phép khách hàng thực hiện toàn bộ quá trình mua bảo hiểm

    Một nghiên cứu của Công ty Nghiên cứu thị trường Cimigo cho thấy, trong vòng 3 năm trở lại đây, việc sử dụng internet đã trở nên quan trọng đối với tất cả các đối tượng cũng như các khu vực, lượng người truy cập internet tăng 20% mỗi năm. Chính vì những tiện ích này, các công ty bảo hiểm đều nhận thấy rằng, kênh bán hàng này sẽ là xu hướng chung và sẽ sớm bùng nổ.
    Trong khối bảo hiểm phi nhân thọ hiện nay, đã có rất nhiều doanh nghiệp tuyên bố triển khai bán hàng trực tuyến. Tuy nhiên, một chuyên gia trong ngành nhận xét, trong khối phi nhân thọ, mới chỉ có BIC và Liberty là đã triển khai bán bảo hiểm trực tuyến đúng nghĩa, còn một số doanh nghiệp khác chỉ thông qua mạng để lấy thông tin khách hàng, sau đó cử cán bộ đến cấp đơn và thu phí trực tiếp.
    Được biết, ngay từ khi mới đưa dịch vụ bán bảo hiểm trực tuyến vào hoạt động, Liberty đã sử dụng chữ ký điện tử, nên việc phát hành giấy chứng nhận bảo hiểm trực tuyến không gặp trở ngại gì.
    Ông Phạm Trường Khánh, Giám đốc maketing Liberty cho biết, điều dễ nhận thấy sau một thời gian triển khai bảo hiểm trực tuyến là, mỗi ngày, đang có hàng ngàn người sử dụng dịch vụ bảo hiểm trực tuyến. Mặc dù nhiều người trong số họ vẫn còn gọi điện thoại đến Trung tâm Dịch vụ khách hàng để tìm hiểu thêm thông tin trước khi quyết định mua bảo hiểm, ngày càng có nhiều người lựa chọn thanh toán phí bảo hiểm trực tuyến và nhận ngay giấy chứng nhận bảo hiểm qua email. Điều này đặc biệt phổ biến ở những người mua bảo hiểm du lịch và bảo hiểm tai nạn con người.
    Tháng 8 này, BIC cũng triển khai áp dụng chữ ký số trong việc cấp đơn bảo hiểm điện tử cho khách hàng mua bảo hiểm qua website. Với việc triển khai chữ ký số và cấp đơn bảo hiểm điện tử, BIC sẽ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm đầu tiên có kênh bán bảo hiểm trực tuyến, trong đó, toàn bộ quá trình mua bảo hiểm của khách hoàn toàn được thực hiện qua mạng. Được biết, doanh thu qua kênh trực tuyến của BIC tuy còn khá nhỏ trong tổng doanh thu phí bảo hiểm, nhưng rất ổn định và có xu hướng tăng dần.
    Trong khi đó, đối với khối nhân thọ, vì đặc thù riêng là hợp đồng dài hạn, nên không thể bán bảo hiểm trực tuyến, tuy nhiên, việc cho phép khách hàng truy cập website công ty để tìm hiểu thông tin về hợp đồng, số dư hợp đồng… thì hầu hết các công ty bảo hiểm khối này đã làm.
    Mới đây, một tân binh mới của thị trường là Generali Việt Nam còn tuyên bố, đưa vào sử dụng cổng dịch vụ khách hàng trực tuyến “GVL-Link”. Đây là phần mềm đầu tiên trên thị trường dành cho bảo hiểm nhóm có những tính năng phục vụ các khách hàng là thành viên được bảo hiểm và các cơ sở y tế đối tác. “GVL-Link” còn là một công cụ quản lý hiệu quả và nhanh chóng cho các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ bảo hiểm nhóm. Bất cứ khi nào khách hàng khám, chữa bệnh, các cơ sở y tế đối tác cũng có thể kiểm tra một cách nhanh chóng hạn mức quyền lợi bảo hiểm và cập nhật chi phí khám, chữa bệnh này. Hệ thống này sau đó sẽ kiểm tra mức chi phí cần thiết nhằm đảm bảo không vượt quá hạn mức quyền lợi bảo hiểm. Các bên có liên quan sẽ được thông báo bằng email ngay khi có phát sinh thanh toán để tiện việc quản lý.
    Một chuyên gia trong ngành nói rằng, đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường trực tuyến hiện nay còn rất ít và cũng đang hoạt động ở mức thăm dò. Chính vì thế, cơ hội cho kinh doanh bảo hiểm trực tuyến còn rộng mở. Tuy nhiên, các doanh nghiệp bảo hiểm muốn phát triển sôi động kênh bán hàng này, cần phải cung cấp các sản phẩm đa dạng và hướng đến từng nhóm đối tượng khách hàng chuyên biệt với những chiến lược cho từng sản phẩm riêng biệt. Không những thế, cùng với việc xem xét khả năng hạ giá hợp lý cho từng sản phẩm cụ thể, trong từng thời điểm cụ thể, để tạo lợi thế cạnh tranh, các công ty này cũng cần cung cấp thêm nhiều tiện ích khác trên trang web như: tư vấn kiến thức, khiếu nại trực tuyến, điều chỉnh hợp đồng trực tuyến…    

Ngọc Lan

Thứ Hai, 6 tháng 8, 2012

Apple để lộ diện hai chiến lược marketing độc đáo

Apple từ lâu đã không cần bất cứ quảng cáo nào cho các sản phẩm mới của hãng, trang Business Insider dẫn lời Phó chủ tịch phụ trách marketing toàn cầu của Apple Phil Schiller cho biết trong phiên tòa tranh chấp bản quyền sáng chế với Samsung.
Thay vào đó, công ty đã dựa vào hai chiến lược chính: Một là, dựa vào giới truyền thông tạo ra tin đồn về các sản phẩm của hãng thông qua những bài đánh giá tích cực. Hai là sắp xếp cho các sản phẩm của hãng xuất hiện trong những chương trình truyền hình và phim ảnh.
Theo hãng tin tài chính Bloomberg, kể từ chiếc điện thoại iPhone thế hệ đầu tiên ra đời vào năm 2007, báo chí truyền thông đã đặc biệt yêu mến các sản phẩm của Apple. Không cần công ty phải quảng cáo, giới truyền thông cũng đã đua nhau khai thác tin về sản phẩm mới.
Chẳng hạn như, vào thời điểm này, báo chí đang ra sức khai thác thông tin về chiếc iPhone thế hệ thứ 6 của Apple. Cho dù hãng không mảy may tiết lộ thông tin về sản phẩm, nhưng chiếc iPhone thế hệ mới qua hình dung của giới truyền thông đã trở thành một "siêu phẩm".
Apple cũng dựa dẫm khá nhiều vào việc đưa các sản phẩm của mình vào những chương trình truyền hình cũng như phim ảnh. Người tiêu dùng rất dễ dàng nhận ra sản phẩm của Apple trong tay các ngôi sao nổi tiếng trong những chương trình truyền hình hay bộ phim điện ảnh.

Tài tử điện ảnh Tom Cruise đang dùng iPhone 4 để trò chuyện trong phim "Nhiệm vụ bất khả thi 4".
Trên thực tế, phương pháp quảng cáo đưa sản phẩm vào phim ảnh đã được nhiều hãng ứng dụng. Người xem phim dài tập của Hồng Kông có thể nghe thấy tiếng nhạc chuông đặc trưng của điện thoại Sony Ericsson hay thấy điện thoại Samsung trong tay các diễn viên Hàn Quốc.
Theo Business Insider, thực tế hai mưu chước marketing trên của Apple không có gì là ngạc nhiên. Điều ngạc nhiên là hãng công nghệ này xưa nay nổi tiếng là không thích nói về việc quảng cáo của họ, song ông Schiller, Phó chủ tịch cao cấp của hãng lại nói rõ ràng về điều đó.