Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Kinh doanh gì hiệu quả khi trời nắng nóng

Sửa điều hòa, quạt điện, bán áo chống nắng, kinh doanh nước giải khát... giúp nhiều người kiếm tiền triệu mỗi ngày vào dịp Hà Nội nắng nóng nhất từ đầu mùa.

1. Sửa điều hòa, quạt điện
Anh Hòa (Định Công, Hà Nội), một thợ sửa điều hòa có kinh nghiệm cho biết, những ngày gần đây anh làm không hết việc. Đã tuyển thêm một vài thợ nữa làm cùng, nhưng ngày nào anh Hòa cũng phải làm đến 7-8h  tối. Người thì gọi anh lắp đặt, số khác thuê sửa chữa, bảo dưỡng. Sau khi trả công cho thợ phụ và các chi phí phụ kiện, có ngày anh thu nhập hơn một triệu đồng. 
 
dieu-hoa1-jpg[1004090711].jpg
 
Cùng với thợ sửa chữa, những người bán điều hòa cũng được dịp "hái ra tiền" trong những ngày gần đây. Đó là chưa kể đến nhu cầu đối với các mặt hàng như máy phát điện, quạt tăng cao, khiến một số đại lý cho biết, doanh số tăng gấp 2 - 3 lần so với trước..
 
2. Kinh doanh nước giải khát
Bán trà đá, trà chanh, nước mía, nước giải khát... đều là những mặt hàng giúp nhiều người tại thủ đô kiếm tiền triệu mỗi ngày, đặc biệt trong thời tiết Hà Nội nóng như đổ lửa. Loại nước uống bình dân nhất hiện nay là trà đá được bán thấp nhất khoảng 3.000 đồng. Người bán lại không phải bỏ quá nhiều vốn.
bia-hoi2-jpg_1368670501[1004090711].jpg
Những cửa hàng bia hơi, nước giải khát luôn kín chỗ trong những ngày nắng nóng.
Với nước mía, trà chanh, người bán cũng lãi ít nhất gấp đôi số vốn bỏ ra. Tại một số đại lý kinh doanh nước giải khát đóng chai, kem, sữa chua và nhà hàng bia hơi, số lượng khách tăng gấp 3 - 4 lần so với trước đó. Trong những ngày nắng nóng, do nhu cầu lớn nên giá các loại đồ uống cũng tăng khoảng vài nghìn đồng so với ngày thường.
 
3. Bán các mặt hàng chống nắng
Cửa hàng bán khẩu trang, áo, váy chống nắng tại Hà Nội luôn đông đúc vào các ngày gần đây. Theo chia sẻ của chủ một cửa hàng trên đường Cầu Giấy, các loại áo, váy chị nhập vào chỉ bằng nửa giá bán. Còn đối với các loại khẩu trang, khăn bịt mặt, chị bán ra đôi khi gấp 3 lần giá nhập.
 
aochongnang-jpg_1368670355[1004090711].j
Các mặt hàng áo chống nắng bán chạy trong thời tiết những ngày gần đây. Ảnh: Anh Quân
Những ngày nắng nóng như mấy hôm nay, có ngày chị bán được hai chục chiếc váy áo. Còn khẩu trang, khăn bịt mặt số lượng không đếm xuể. Trên phố Gia Ngư, Hoàn Kiếm chủ một cửa hàng cũng cho biết, cả bán lẻ và buôn đều tăng gấp đôi ngày thường. 
4. Giao hàng tận nơi
Thời tiết khắc nghiệt, nhu cầu mua hàng qua mạng và giao tận nơi được rất nhiều người ưa chuộng. Chị Lan, chủ một shop thực phẩm online cho biết, giá thuê shipper gần đây cũng tăng khoảng 10.000-20.000 đồng so với trước đó do thời tiết quá nắng nóng. "Giá tăng nhưng nhiều lúc gọi cũng chẳng có người mà thuê", chị Lan cho biết.
shipper-jpg[1072061918].jpg
Giá dịch vụ giao hàng tận nơi trong những ngày nắng nóng tăng 10.000-20.000 đồng so với bình thường. Ảnh: Thanh Bình
Anh Thịnh, một shipper chuyên nghiệp cho biết, mấy ngày nay, trung bình mỗi ngày nhận hơn 40 đơn hàng gồm đủ các loại sản phẩm. Giá mỗi chuyến 30.000-50.000 đồng tùy khoảng cách. Do lồng ghép giữa những đơn hàng cùng tuyến đường nên anh không phải đi quá nhiều chuyến, giảm bớt chi phí xăng xe và có ngày bỏ túi gần một triệu đồng.
 
5. Taxi
 
taxi-jpg_1368670237[1004090711].jpg
Tài xế taxi luôn rất bận rộn trong những ngày nắng nóng. Ảnh: Anh Quân
Nắng nóng kéo dài, nhu cầu di chuyển bằng xe taxi cũng tăng rất mạnh. Anh Huy, tài xế hãng Mai Linh cho biết, vào buổi trưa giờ cao điểm, không ít hôm "cháy" xe. Một số tài xế hãng nhỏ còn từ chối nếu khách đi đoạn đường gần.
 
Ngọc Minh

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2013

Chứng khoán Việt Nam dưới mắt chuyên gia Nhật

Chuyên gia kinh tế - chứng khoán Imai Masayuki (ảnh bên) sẽ đến Việt Nam từ ngày 12/5 đến 16/5, để tìm hiểu thêm về các doanh nghiệp sản xuất - xuất khẩu. Dù hết sức bận rộn để chuẩn bị cho chuyến đi, nhưng anh vẫn dành thời gian để tham gia cuộc phỏng vấn với Akira Lê tại quận Chuo, Tokyo.



Dưới đây là các nội dung phỏng vấn đáng chú ý về triển vọng kinh tế và chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới.

Akira Lê: Ông nhận định như thế nào về nền kinh tế Việt Nam hiện tại?

Imai Masayuki: Thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay là việc xử lý nợ xấu ngân hàng. Điều này là do nền kinh tế đã tăng trưởng nóng trong hơn 10 năm qua và tiếp tục phát triển theo chiều hướng quá phụ thuộc vào bất động sản.

Vì vậy, sự thay đổi cơ cấu kinh tế, chính sách của Việt Nam theo tôi là phù hợp với tình thế hiện nay. Vẫn có rất nhiều nhà đầu tư Nhật Bản có cảm tình với Việt Nam. Chúng tôi đánh giá cao những nỗ lực của Chính phủ, ít ra là giúp thị trường chứng khoán vượt qua giai đoạn khó khăn trước mắt.

Việc xử lý nợ xấu khó tránh khỏi tác dụng phụ, nhưng kết quả là sức khỏe toàn diện của nền kinh tế sẽ được cải thiện, góp phần gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và GDP. Tôi nghĩ rằng, thay vì cứu chữa bằng phẫu thuật theo kiểu Tây Y, cách làm này gần với Đông Y nhưng lại tỏ ra hiệu quả hơn, vì đây chính là giải pháp hạ cánh an toàn đối với vấn đề nợ xấu, phù hợp với nền kinh tế tăng trưởng nhanh như Việt Nam.

Theo Ông thì chiến lược phát triển như thế nào là bền vững đối với Việt Nam?

Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam được xem là sánh ngang với các nước ASEAN khác, chẳng hạn như Indonesia, nhưng xét về lộ trình phát triển kinh tế thì Việt Nam đi sau các nước này một bước. Mô hình dưới đây phản ánh điều đó:


Theo lộ trình phát triển kinh tế ở trên, Việt Nam đang dịch chuyển từ giai đoạn “hoàn thiện cơ sở hạ tầng” sang “phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu”.

Điều này tương tự như Nhật Bản vào những năm 1960 và Indonesia, Philippines vào những năm 1970. Vào thời điểm đó, tận dụng lợi thế nhân công giá rẻ và tay nghề khéo léo, Nhật Bản đã sản xuất và xuất khẩu sang Âu Mỹ lượng lớn hàng dệt may chất lượng cao.

Sau đó, ngành công nghiệp dệt may bị lỗi thời, Nhật Bản chuyển hướng tập trung vào các sản phẩm có giá trị gia tăng và hàm lượng chất xám cao. Họ đã đạt thặng dư thương mại khổng lồ cho đến ngày nay. Những năm 1980, giá bất động sản bắt đầu bùng nổ, tiềm lực kinh tế của Nhật Bản đã đạt đến mức có thể thâu tóm nhiều doanh nghiệp lớn của Mỹ.

Sau Nhật Bản, các nước như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Indonesia, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Philippines cũng đã lần lượt áp dụng chiến lược “công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu" này để xây dựng quốc gia vững mạnh như hiện nay. Vì vậy, nếu Việt Nam quyết tâm theo đuổi chiến lược này, tôi tin rằng nền kinh tế sẽ phát triển bền vững.

Thị trường chứng khoán Việt Nam có còn hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài hay không?

Biểu đồ dưới đây cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng không kém các nước khác trong khu vực:


Nếu so sánh với các thị trường khác, chứng khoán Việt Nam có tuổi đời trẻ hơn, vì vậy có sức bật lớn hơn so với những thị trường già cỗi.

Các chỉ số cơ bản (P/E, P/B,…), giá cổ phiếu Việt Nam cũng đang ở mức thấp hơn.

Nhà đầu tư vĩ đại Warren Buffett đã từng nói: "Nên mua một cổ phiếu phi thường ở mức giá bình thường, hơn là mua một cổ phiếu bình thường ở mức giá phi thường".

Từ kinh nghiệm về đầu tư quốc tế của mình, tôi thấy rằng đầu tư vào chứng khoán Việt Nam sẽ có lợi hơn và quan trọng là phải biết chọn mua cổ phiếu đúng thời điểm.

Nếu bây giờ đầu tư vào chứng khoán Việt Nam thì Ông sẽ chọn những ngành nào?

Tôi thật sự quan tâm đến các ngành liên quan đến công nghiệp chế biến, sản xuất và phục vụ xuất khẩu. Cổ phiếu ngành này được các nhà đầu tư tại Nhật Bản đánh giá là rất có triển vọng trong thời gian sắp tới.

Vì vậy, từ ngày 12/5 tôi sẽ tiếp tục đến Việt Nam để thăm và tìm hiểu thêm về hoạt động kinh doanh của một cố công ty niêm yết liên quan đến lĩnh vực này.

Cám ơn Ông!

Akira Lê
(Vietstock)

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

Khách sạn và Resort: Thị trường cho vật liệu xanh

Mặc dù là thị trường đầy tiềm năng, nhưng các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xanh trong nước lại không tập trung khai thác các khu resort, vốn mọc lên ngày càng nhiều ở Việt Nam. Đa số doanh nghiệp chỉ xem sự có mặt sản phẩm của mình ở các khu resort chỉ để làm thương hiệu.

Nói về thiết kế resort, kiến trúc sư Hồ Thiệu Trị, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc HTT Group nhấn mạnh, bản sắc riêng chính là yếu tố quan trọng, góp phần lớn vào sự thành công của loại hình bất động sản này. Tạo ra điểm khác biệt không phải dễ, khi các resort đều hướng đến mục tiêu hòa quyện với thiên nhiên. Trong xu thế chung, vật liệu thân thiện môi trường cũng là một trong những tiêu chí làm nên đẳng cấp của các resort. Tuy nhiên, độ phủ của vật liệu xanh được bao nhiêu cũng còn tùy vào quan điểm của “ông chủ” các resort.

Ông Hoàng Tiến Dũng, người đã bán lại Dự án Resort Xuân Thiều, Đà Nẵng và hiện đang sở hữu khu nghỉ dưỡng trên đảo Hòn Rùa tại Nha Trang cho biết, Hòn Rùa là địa chỉ ông chọn làm nơi nghỉ dưỡng cho riêng mình, nên từ thiết kế, đến vật liệu đều tối đa hóa việc sử dụng vật liệu thân thiện môi trường như gạch, đá, đèn trang trí, sơn bao phủ… Đặc biệt, khi đến Hòn Rùa, rất khó để phát hiện sản phẩm vật liệu xanh giữa những căn nhà Rường của Huế.


Các khu resort là thị trường lớn mà các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xanh trong nước đang bỏ quên

Không chỉ Hòn Rùa, hiện Việt Nam cũng đang có nhiều khu resort trải rộng từ Bắc chí Nam. Các khu resort đều thể hiện đẳng cấp của mình thông qua các vật liệu được sử dụng, chứ không riêng gì các “sao” gắn trên biển hiệu. Những vật liệu mà các resort thường sử dụng là đá tự nhiên, gạch xi măng cốt liệu, gạch AAC, đèn Led cho chiếu sáng và trang trí, sơn sinh thái tĩnh điện, sơn dầu gốc nước, hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời, tấm cách âm, cách nhiệt… Tuy nhiên, vật liệu xanh thường chỉ được các khu resort cao cấp sử dụng như Furama Đà Nẵng, Long Hải (Bà Rịa - Vũng Tàu), Vinpearl Nha Trang, Sun Spa Quảng Bình…

Trên nguyên tắc, từ “tối đa” đến “tối giản” (tối đa sử dụng vật liệu xanh, tối giản các loại vật liệu qua sơ chế), các khu resort hiện đang xây dựng đều hướng đến mục tiêu này. Tuy nhiên, vật liệu xanh tìm chỗ đứng trong các khu resort không phải dễ, bởi đối với resort cao cấp thì một mình chữ “xanh” thôi chưa đủ. Vì vậy, nếu không có chiến lược, bước đi đúng đắn, các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xanh trong nước sẽ rất khó tìm đường vào các khu resort, đặc biệt là các khu resort cao cấp.

Bà Đỗ Thị Hồng Xoan, Chủ tịch Hiệp hội Khách sạn Việt Nam cho biết, số khách sạn từ 3 - 5 sao chiếm 60% doanh thu của toàn ngành du lịch, nhưng việc sử dụng sản phẩm tiết kiệm năng lượng đang còn quá khiêm tốn.

Tuy nhiên, ngay những nhà sản xuất vật liệu xanh trong nước cũng không xác định resort là thị trường tiêu thụ chính, mà chỉ xem việc “vào” được các công trình đó để thể hiện chất lượng sản phẩm của mình, chủ yếu là để PR hình ảnh.

Ông Đàm Thanh Tùng, Phó giám đốc CTCP Gạch Vương Hải cho biết, gạch AAC mang thương hiệu V-Block đã được sử dụng ở một số công trình áp dụng tiêu chuẩn công trình xanh LEED tại TP. HCM như Khách sạn 5 sao Pullman Saigon Center và nhiều công trình khác. Tuy nhiên, tỷ trọng sử dụng gạch AAC trong các khu resort vẫn rất thấp và “chủ yếu để quảng bá thương hiệu”.

Trong khi đó, không giống như gạch, các loại đèn Led của các thương hiệu trong nước như Điện Quang hay Rạng Đông lại được sử dụng làm đèn trang trí và cả đèn chiếu sáng của hầu hết các resort trong nước.

Ông Trần Văn Huynh, Chủ tịch Hiệp hội Vật liệu xây dựng Việt Nam thừa nhận: “Vật liệu xanh được các nước tiên tiến trên thế giới dùng từ rất lâu, nhưng ở Việt Nam thì chỉ mới bắt đầu. Mặc dù thị trường tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, song trong tương lai, vật liệu xanh thân thiện môi trường sẽ chiếm ưu thế so với các loại vật liệu truyền thống”.

Trung Kiên
(đầu tư chứng khoán)

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

Làm sao kiếm 1 triệu đô la trước tuổi 25

Chuyện về Merry Riana, nữ triệu phú trẻ tuổi gốc Indonesia nhưng thành danh tại đảo quốc Singapore, có thể là kinh nghiệm quý giá cho các bạn trẻ trước ngưỡng cửa vào đời…





“Làm thế nào để có 1 triệu đô la trước tuổi 25? Bạn có khi nào tự đặt cho mình một câu hỏi như vậy chưa?”. Thử làm cuộc điều tra bỏ túi khán giả - công chức, nhân viên kinh doanh và sinh viên - có mặt trong buổi thuyết trình thì 100% số người được hỏi cho biết chưa từng làm một công việc tương tự trong đời. Vậy mà Merry - một cô gái trẻ dám tự đặt ra cho mình vào đúng sinh nhật lần thứ 20.

Có “điên rồ” không khi một cô gái ngoại quốc mà vào thời điểm đó chỉ dám tiêu 10 đôla Singapore cho suốt 1 tuần ăn học tại đảo quốc sư tử? Một cô gái mà để có mặt tại Singapore học về công nghệ đã để lại món nợ 40.000USD cho bố mẹ ở quê nhà? Merry cười rất tươi, trả lời: “Có nhiều điều tưởng là điên rồ nhưng lại hoàn toàn có thể xảy ra trong cuộc đời”.

Merry sinh năm 1980, trong một gia đình nghèo đông con ở Indonesia. Năm 18 tuổi, khi vừa tốt nghiệp trung học phổ thông, cô đến Singapore theo học tại trường Đại học Công nghệ Nanyang, chuyên khoa điện - điện tử.

Cô đến Singapore gần như với hai bàn tay trắng, kể cả nghĩa đen. Tiếng Hoa không biết, Tiếng Anh cũng chỉ bập bõm. Merry rớt ngay trong kỳ thi trắc nghiệm nhập trường bằng tiếng Anh khiến cô phải mất thêm một năm học ngoại ngữ, đồng nghĩa với việc cha mẹ cô thêm gánh nặng nợ nần.

Merry có nhiều nét tương đồng với không ít bạn trẻ Việt Nam trước ngưỡng cửa cuộc đời. Chẳng hạn việc học ngành điện - điện tử không phải là nghề nghiệp mơ ước của cô. Chẳng qua đó là công việc cha mẹ cô muốn và cũng dễ xin việc ở quê nhà.

Bước ngoặt đến với Merry khi cô có sáu tháng thực tập tại một công ty điện tử trước khi tốt nghiệp với bằng kỹ sư. Làm một con tính, Merry nhận thấy rằng dù lương tháng của một kỹ sư ở Singapore khá cao, khoảng 4.500 đôla, nhưng với vật giá đắt đỏ, sau khi trừ các khoản chi phí, cô sẽ chỉ còn lại 500 đôla.

Chỉ riêng việc trả khoản nợ vay gồm lãi, cô mất đứt 10 năm. “Đó là khoảng thời gian quá dài mà tôi không thể chờ đợi được. Tôi tự đặt ra mục tiêu là phải trở thành triệu phú vào năm 25 tuổi. Tôi còn có khoản nợ vay và có bố mẹ già phải chăm sóc, phụng dưỡng” - Merry kể.

Thế là Merry chuyển qua kinh doanh vì cô cho rằng đây là cách duy nhất để trở nên giàu có nhanh chóng. Tiền không có, kinh nghiệm không có và mối quan hệ cũng không nốt, Merry có thể làm gì?

Thương vụ đầu tiên Merry làm như bao người khác muốn thành công nhanh chóng là đầu tư chứng khoán bằng khoản tiền khó khăn lắm mới vay được. Merry có lý do để tin mình sẽ thành công trên thị trường chứng khoán bởi lẽ cô chính là quán quân trong thị trường chứng khoán “ảo” được tổ chức tại trường. Và, kết quả là trắng tay với “cuốn sổ nợ” lại thêm trang mới.

Phần thưởng duy nhất của chuyến phiêu lưu chính là bài học: đời thật khác xa sách vở. Không nản, Merry vét túi được 200 đô la thử sức lần nữa với công việc tư vấn viên cho một công ty truyền tiêu có tên “thành công vĩnh cửu”. Sau một tháng công ty đóng cửa. Một lần nữa Merry trắng tay.

Thành công đến sau nhiều lần thử sức mà sau này cô đúc kết bằng kinh nghiệm mang tính công thức: Niềm tin -> Hành động -> Tiềm năng -> Kết quả -> Niềm tin.

Merry chia sẻ với cử tọa mà hầu hết là giới trẻ: “Hãy lắng nghe xem mình thực sự muốn gì. Tiếp theo bạn phải hành động để đạt được mục tiêu đó. Khi bạn làm thì có thể đúng có thể sai. Đúng thì mình sẽ đạt được kết quả. Sai thì phải thay đổi phương pháp cũng như cách làm để đạt được kết quả mong muốn. Khi đã thành công thì ngược lại củng cố niềm tin cho bạn”.

Thất bại ê chề nhưng không gì dập tắt được ước mơ thành công cháy bỏng trong cô. Merry chuyển qua làm công việc bán hàng. Ở đây cô khám phá năng lực đặc biệt của mình và trở thành một chuyên gia bán hàng cực kỳ xuất sắc trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm.

Dĩ nhiên phải kể tới công suất làm việc đáng nể của cô. Gần như suốt nhiều năm liền cô không có ngày nghỉ cuối tuần đồng thời không khi nào cô làm việc ít hơn 14 tiếng mỗi ngày.

Merry đã kiếm được hơn 1 triệu đôla chỉ sau bốn năm tốt nghiệp đại học ở tuổi 25 đúng như mục tiêu đã định. Merry tự mình thành lập tổ chức mang tên cô - Merry Riana Organization quy tụ các thành viên trẻ xuất sắc trong nhiều lĩnh vực.

Trong hai năm qua cô đã phát triển tổ chức lên tới 50 người. Tháng 7/2006, cuốn sách đầu tay A gift from a friend (Món quà từ một người bạn) của cô lọt vào danh sách best-seller (bán chạy nhất) tại Singapore. Merry trở thành diễn giả và chuyên gia huấn luyện số 1 châu Á.

Mục tiêu kế tiếp của chị là gì? Chị có đặt ra cho mình mục tiêu nào không?” - “Năm 30 tuổi tôi muốn trở thành tỷ phú ” - Merry đáp gọn.

Nếu có thể, chị cho các bạn trẻ Việt Nam một lời khuyên?” - Gần như không phải suy nghĩ, nữ triệu phú nói: “Bạn phải có ước mơ kèm theo đó là hành động để thực hiện nó. Điều này không mới, bạn có thể nghe thấy ở đâu đó. Nhưng hãy làm như tôi nói, vì đó chính là những gì cuộc đời tôi đã trải qua”.

Buổi thuyết trình khá hưng phấn cho người nghe và cả diễn giả. Nhiều sinh viên chia sẻ cảm tưởng về những đổi thay trong nhận thức sau buổi diễn thuyết của Merry.

Theo Trường Điền
Tiền Phong

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Hành trình tìm ra chân lý của một tỷ phú

Hành trình tìm ra chân lý của hạnh phúc, con đường dẫn đến thành công trong kinh doanh của tỷ phú Tony Hsieh không chỉ là câu chuyện hấp dẫn, mà còn là bài học kinh nghiệm quý giá cho những ai muốn trở thành người giàu-có-hạnh-phúc.
Nguyên tác: Delivering Happiness
Tác giả: Tony Hseih
Xuất bản: 2010 tại Mỹ
Người dịch: Hoàng Thị Minh Hiếu
Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân 2011
Sách dày 314 trang
Nghe đọc tóm tắt
Nghe đọc tóm tắt – bản dành cho thiết bị di động
Về tác giả
Tony Hseik là CEO của LinkExchange, CEO của Công ty Zappos rất thành công và được rất nhiều người ngưỡng mộ và học tập.
Nội dung chính
Tác giả kể lại những bài học thành công và thất bại trong quá trình kinh doanh của mình, đồng thời bày tỏ quan điểm về hạnh phúc trong cuộc sống và trong kinh doanh.
Phần 1: Lợi nhuận
1 – Hành trình tìm kiếm lợi nhuận
Giống như những ông bố, bà mẹ gốc Á khác, bố mẹ tôi đặt kỳ vọng rất cao vào chúng tôi, như muốn tôi học trường y, lấy bằng tiến sĩ. Nhưng tôi chỉ quan tâm đến việc kinh doanh, nghĩ cách kiếm tiền.
Lúc tôi chín tuổi, tôi nói bố mẹ tôi đưa tôi đến Bắc Sonoma, nơi có nhà cung cấp giun đất nổi tiếng cả nước, tôi đang ấp ủ giấc mơ trở thành đối thủ cạnh tranh của họ. Bố mẹ tôi mua một hộp giun đất khoảng 100 con với giá hơn 30 đô la. Tôi tạo một hộp giun trong vườn nhà mình, đáy là lưới thép mỏng, đổ đầy bùn rồi thả 100 con giun đất vào đó. Hằng ngày tôi lấy lòng đỏ trứng gà vùi xuống hộp giun để chúng có thể sinh sôi nẩy nở nhanh hơn. Vì tôi biết các vận động viên chuyên nghiệp thường ăn trứng gà sống để tăng cường sinh lực.
Sau 30 ngày tôi kiểm tra xem thử lũ giun sinh sôi như thế nào, nhưng tuyệt nhiên chẳng có một con giun mẹ giun con nào cả. Ước mơ làm giàu từ giun của tôi đã tan biến, tôi rất buồn. “Con đường dẫn đến thành công của tôi cũng đã trải quan nhiều thất bại” (Thomas Edison).
Thời trung học, tôi làm công việc giao báo, chỉ kiếm được 2 đô la mỗi giờ. Sau đó, tôi quyết định tự làm bản tin bán cho bạn bè, mỗi bản 5 đô la, nhưng chỉ bán được 4 bản, tôi phải tìm bán thêm 4 trang quảng cáo nữa để có thu nhập. Vài tuần sau, tôi in bản số 2, nhưng bạn bè tôi đã hết tiền mua, tôi chỉ bán được 2 bản, tôi quyết định dừng vụ kinh doanh này lại.
Khi đọc tạp chí Boy’s life, tôi phát hiện dụng cụ làm khuy áo với giá 50 đô la, có thể biến một tấm hình hoặc mẫu giấy thành khuy áo sơ mi, mỗi chiếc khuy giá 25 xu. Tôi quảng cáo qua hình thức đặt hàng và giao hàng qua thư mà không cần gặp mặt trực tiếp. Tôi đã thành công. Hằng tháng tôi thu nhập khá ổn định. Khi tốt nghiệp cấp 2, tôi quyết định nhường công việc này cho cậu em Andy, sau này Andy truyền nghề lại cho cậu em út, cuối cùng, cậu út cũng phải bỏ nghề khi ba tôi chuyển về Hồng Kông.
Khi học hết cấp 3, tôi đã đọc một số cuốn sách ảo thuật và tôi đã biểu diễn các trò ảo thuật khá hay, hoàn toàn mới. Nhiều người tò mò muốn biết làm sao tôi làm được như vậy. Đọc được ý nghĩ đó, tôi quảng cáo trên tạp chí Boy’s life tốn hết 800 đô la (cũng qua thư), rằng tôi sẽ cung cấp dụng cụ và hướng dẫn cách biểu diễn. Sau một thời gian chờ đợi, tôi chỉ nhận được 10 đô la đặt hàng. Vậy là 800 đô la mất tiêu. Tôi cứ tưởng tôi là ông vua bất khả chiến bại của phương cách đặt hàng qua thư.
Tôi quyết định học đại học Harvard như mong muốn của ba mẹ tôi. Vào đại học, tôi tha hồ xem ti vi và phim cũng như chơi game. Tôi thường xuyên trốn học và ngủ nướng. Tính lại, suốt năm đầu đại học tôi chẳng lên lớp bao nhiêu. Để hoàn thành các môn điều kiện, tôi chọn ghi danh lớp học kinh thánh, vì lớp này không có bài tập, chỉ có bài thi cuối kỳ, tôi trốn học thoải mái. Hai tuần trước khi kiểm tra cuối kỳ, giáo sư phát đề cương để sinh viên nghiên cứu. Tôi lúng túng, cái khó ló cái khôn, tôi gửi tin nhắn đến tất cả các bạn sinh viên, tổ chức một cuộc tham gia nghiên cứu, mỗi sinh viên chỉ cần soạn 3 chủ để. Tôi tập hợp các bài viết, photo, đóng thành tập, bán với giá 20 đô la mỗi tập. Chẳng cần phải học bất cứ cuốn sách nào, cũng không tự viết, tôi đã có các bài nghiên cứu đầy đủ, mà lại kiếm được tiền. Tôi đã hoàn thành tốt bài thi cuối kỳ. Tôi đã khám phá ra sức mạnh của đám đông.
Thời gian sau đó, thành phố ra chỉ thị cấm mở các quán ăn nhanh gần trường học, lợi dụng cơ hội này, tôi và Sanjay đi tàu điện ngầm đến trạm gần nhất có cửa hàng Mc Donald’s mua bánh hamburger và bánh ngọt về ký túc xá bán. Nhưng bánh pizza lại lãi hơn, mua một chiếc 2 đô la, nước xong bán 10 đô la. Tôi đầu tư 2.000 đô la trong vụ này, doanh số của tôi ngày càng tăng.
Alfred là khách hàng số một của chúng tôi, anh đặt mua một chiếc pizza cỡ lớn, chỉ vài giờ sau anh lại mua thêm chiếc nữa. Alfred được chúng tôi đặt biệt danh là “thùng nước lèo” vì anh ăn rất nhiều, vài tiếng mà ăn 2 chiếc bánh như vậy là vô lý. Thời gian sau, chúng tôi phát hiện ra rằng Alfred mua bánh pizza rồi cắt thành từng miếng bán cho các bạn cùng phòng, rất có lãi. Tính ra, Alfred đã kiếm lãi gấp nhiều lần so với chúng tôi, mà lại ít vất vả hơn.
Chính nhờ việc kinh doanh bánh pizza của Alfred mà sau này tôi chọn anh làm giám đốc tài chính và giám đốc điều hành khi mở công ty Zappos.
2 – Được cái này, mất cái kia
Khi ra trường, cả Sanjay và tôi đều được công ty Oracle mời vào làm việc, lương cao cùng với chế độ cộng thêm. Thỉnh thoảng tôi lại hỏi thăm Sanjay, cũng như tôi, cậu ấy cảm thấy không có gì thú vị cả. Chúng tôi bàn cùng nhau làm cái gì đó vào cuối tuần để chống lại sự nhàm chán. Ý tưởng kinh doanh riêng rất thú vị, chúng tôi quyết định mở công ty IMS, thiết kế trang web cho các công ty.
Chúng tôi tiếp cận và thuyết phục phòng Thương mại địa phương thiết kế trang web miễn phí cho họ để từ đó tìm kiếm khách hàng. Khách hàng lớn đầu tiên là Hillsdale chịu trả 2.000 đô la để thực hiện trang web của họ. Chúng tôi thực sự đã làm được! Việc quyết định rời công ty Oracle là việc cần phải làm. Không hẳn chỉ vì tiền, nhưng tôi muốn được điều hành công ty kinh doanh của riêng mình và làm chủ số phận.
Cuối tuần đầu tiên, chúng tôi nhận thấy không thực sự đam mê công việc thiết kế trang web. Những tuần tiếp theo chúng tôi cảm thấy căng thẳng và chán nản. Ngày cuối tuần, trong tâm trạng buồn chán, chúng tôi quyết định tiến hành lập trình thử nghiệm ý tưởng Internet Link Exchange (trao đổi liên kết trên internet), sau này đổi tên là Link Exchange. Chỉ trong một tuần, chúng tôi thấy ý tưởng đó có tiềm năng rất lớn, chúng tôi tập trung sức lực biến Link Exchange thành một doanh nghiệp thành công.
Tháng 8 năm 1996, Lenny đề nghị chúng tôi bán Link Exchange cho Bigfoot với giá một triệu đô la tiền mặt và cổ phiếu. Chúng tôi cảm thấy choáng váng, Link Exchange chỉ mới thành lập có năm tháng mà giờ đây có cơ hội bán được giá cao như vậy. Nhưng chúng tôi vẫn đưa mức giá lên 2 triệu đô la. Cuộc mua bán không thành, nhưng Sanjay và tôi có động lực rất lớn để đưa Link Exchange tiến xa hơn.
Jerry Yang, người đồng sáng lập Yahoo! đến thăm chúng tôi. Chúng tôi rất phấn khởi và hy vọng ký kết hợp đồng quảng cáo với Yahoo!. Nhưng Jerry chẳng hề quan tâm đến hợp đồng mà anh muốn mua lại Link Exchange với giá hai mươi triệu đô la. Chúng tôi phải cố gắng lắm mới giữ được bình tĩnh khi nghi Jerry ngỏ ý. Chúng tôi suy nghĩ, nếu chúng tôi nhận 20 triệu đô la thì từ giờ đến cuối đời không phải làm gì nữa cả. Nhưng tôi đã gầy dựng công ty mà tôi yêu thích, tôi ngu ngốc gì mà phải bán nó đi. Chúng tôi quyết định từ chối lời đề nghị của Jerry.
Suốt 17 tháng tiếp theo, chúng tôi đều ngủ rất ít, chúng tôi không ngừng tuyển thêm nhân viên. Chúng tôi đã phạm sai lầm khi tuyển dụng người vào công ty, nền văn hóa công ty dần dần bị hủy hoại, tôi có cảm giác mọi thứ không còn thú vị như trước nữa.
]Microsoft đưa ra giá 265 triệu đô la để mua Link Exchange, với vài điều kiện đi kèm. Họ muốn Sanjay, Ali và tôi tiếp tục ở lại, tôi sẽ được nhận thêm 40 triệu đô la nữa. Việc ký hợp đồng diễn ra chỉ sau vài tuần thương lượng. Chúng tôi không vui mừng như người ta tưởng mà có một tâm trạng ngậm ngùi pha lẫn thư thái lạ kỳ.
Bây giờ là cái gì đây? Cái gì tiếp theo? Các câu hỏi cứ luẩn quẩn trong đầu tôi: Thành công là gì? Hạnh phúc là gì? Tôi đang làm việc vì điều gì? Tôi không cần nhiều tiền nữa. Tôi chẳng chi tiêu hết số tiền tôi có, vậy tại sao tôi phải làm việc cho Microsoft? Tôi điểm lại điều hạnh phúc nhất trong cuộc đời mình chẳng có giai đoạn nào liên quan đến tiền cả. Tôi hiểu ra rằng, việc xây dựng sự nghiệp trở nên sáng tạo làm tôi hạnh phúc, tình bạn thân thiết làm tôi hạnh phúc, ăn một củ khoai nướng sau khi bơi khiến tôi vui.
Xã hội và nền văn hóa đã đầu độc chúng ta, làm cho chúng ta không cần suy nghĩ nữa, chỉ cần mặc định thừa nhận càng nhiều tiền thì càng thành công và hạnh phúc. Tôi đã chọn cách thành thật với chính mình và quyết định từ bỏ số tiền Microsoft trả để giữ chân tôi. Tôi chưa biết mình sẽ làm gì, nhưng chắc chắn tôi sẽ làm một điều gì đó. Tôi quyết định không theo đuổi tiền bạc mà bắt đầu theo đuổi niềm đam mê của mình.
Tôi sẵn sàng bước sang một trang mới trong cuộc đời.
3 – Đa dạng hóa
Nhiều người trong chúng tôi rời Link Exchange đang cố tìm lời giải cho câu hỏi: “Làm gì bây giờ?”.
Một ngày nọ, tôi nhận được tin nhắn thoại của Nick Swinmurn, nói rằng anh ta vừa mới lập một trang web có tên shoesite.com, một cửa hàng bán giày trực tuyến giống như Amazon vậy. Tôi cho rằng đó là một ý tưởng ngớ ngẩn. Nick nói thêm, ngành công nghiệp giày dép mỗi năm mang lại cho nước Mỹ 40 tỷ đô la, trong đó doanh số bán hàng trên mạng chiếm 2 tỷ đô la. Chúng tôi đồng ý đầu tư cho shoesite.com. Sau đó chúng tôi đổi tên trang web là Zappos.
Ý tưởng kinh doanh thực sự ở đây là phải biết lập mối quan hệ đối tác với hàng trăm thương hiệu, họ sẽ cung cấp cho Zappos danh mục giới thiệu sản phẩm của họ. Zappos sẽ nhận đơn hàng từ khách hàng trên mạng, chuyển tới nhà sản xuất để họ trực tiếp chuyển sản phẩm đến khách hàng.
Chúng tôi không biết ý tưởng bán giày trên mạng có thành công hay không, nhưng trước sự đam mê của Nick và Fred, tôi và Alfred sẵn sàng tham gia vào canh bạc lớn.
Khi tôi chưa xác định mình làm điều gì tiếp theo, tôi đã hời hợt đầu tư và kinh doanh chứng khoán. Đầu tư tiền vào chứng khoán của các công ty mà tôi chẳng biết tí gì và kết cục là bị mất rất nhiều tiền. Đầu tư ban đầu để hỗ trợ cho các ý tưởng và những công ty mới thật thú vị. Alfred và tôi đã thực hiện 27 vụ đầu tư và chẳng còn tí tiền nào trong quỹ. Vào thời điểm đó, dường như ý tưởng nào của chúng tôi nghe cũng tuyệt vời, vì vậy, tiền trong quỹ ra đi nhanh chóng. Tháng 4 năm 2000, cổ phiếu các công ty kinh doanh trên internet bắt đầu mất giá, gây hoang mang khắp thung lũng Silicon. Rất nhiều công ty phá sản. Chúng tôi từ chối rót vốn cho các công ty trong danh mục đã đầu tư. Cuối cùng, Zappos là công ty duy nhất còn lại mà chúng tôi tiếp tục đầu tư, mặc dù không lạc quan cho lắm.
Tôi quyết định rút khỏi vai trò là một nhà đầu tư và một chuyên gia tư vấn, để tiếp tục làm một doanh nhân. Cuối năm đó, tôi bắt đầu làm việc toàn thời gian ở Zappos. Cuộc tìm kiếm cuối cùng đã hoàn tất. Tôi đã nhận ra điều mình muốn tập trung vào. Tôi đã xác định niềm đam mê mới của mình.
Phần II: Lợi nhuận và đam mê
4 – Củng cố vị thế của bạn
Hai năm tiếp theo rất khó khăn với Zappos. Chúng tôi chỉ tập trung vào mục tiêu làm sao để tồn tại. Chúng tôi không thể thu hút thêm bất cứ nguồn quỹ bên ngoài nào. Vài tháng sau, vì đã cạn tiền nên tôi phải dùng đến cả tiền trong tài khoản cá nhân của tôi ở ngân hàng để duy trì hoạt động của công ty.
Chúng tôi quyết định xem xét thật kỹ lưỡng các khoản chi, không tuyển dụng thêm người, thậm chí sa thải một số nhân viên, thuyết phục một số nhân viên còn lại giảm tiền lương hoặc không nhận lương để đổi lấy cổ phần trong công ty. Chúng tôi kê thêm giường ở các phòng của tòa nhà để tiết kiệm tiền thuê nhà cho nhân viên. Vận động nhân viên tương thân tương ái, hăng say chăm chỉ làm việc để vượt qua giai đoạn khó khăn. Chúng tôi gắn kết với nhau bởi mục tiêu giữ cho công ty khỏi phá sản.
Khi tiền trong tài khoản cá nhân cạn kiệt, tôi bán những khu đất của mình để có thể tiếp tục đầu tư cho Zappos. Cuối cùng tôi bán tất cả tài sản đã mua được trừ ngôi nhà đang ở và khu tổ chức tiệc trước kia.
Cần thay đổi mô hình kinh doanh để cứu công ty. Chúng tôi quyết định biến dịch vụ chăm sóc khách hàng trở thành mục tiêu chính của công ty.
Chúng tôi thu hút các hãng giày nổi tiếng để có sản phẩm tốt phục vụ khách hàng, thuyết phục họ bán hàng cho chúng tôi lưu kho, mở cửa hàng bán lẻ song song với việc bán hàng qua mạng. Chúng tôi biến một nửa văn phòng làm nhà kho. Để có tiền mua hàng, tôi phải thanh lý mọi thứ tôi đã sắm được và đấu giá trang trại của mình.
Chúng tôi đã làm đúng. Doanh thu của chúng tôi đã tăng. Mọi người rất háo hức với mô hình kinh doanh mới. Nhưng chúng tôi vẫn không có đủ dòng tiền dương do phải chi trả các khoản vận chuyển bên ngoài. Đầu năm 2002, Công ty Elogistics ở Kentucky hợp tác với chúng tôi. Có kho ở Kentucky, chúng tôi có thể cắt giảm chi phí vận chuyển. Trong lần chuyển hàng từ kho California đến Kentucky, một xe tải bị trật bánh, lật nhào, tài xế bị thương và toàn bộ số giày trên xe tung tóe trên đường cao tốc, 20% lượng hàng với giá trị 500 nghìn đô la bị mất trắng. Sau đó, các nhân viên của Elogistics không biết quản lý, rất nhiều giày trong kho ngày có nhiều vết bẩn không thể bán được. Công ty đối mặt với thời kỳ vô cùng khó khăn.
Chúng tôi thanh lý hợp đồng với Elogistics, thuê một nhà kho mới ở Kentucky và phải chuyển toàn bộ sản phẩm đi một lần nữa. Tất cả mọi chuyện đều phụ thuộc vào việc bán khu tổ chức tiệc của tôi trước kia, nếu không công ty sẽ hoàn toàn phá sản. Việc bán khu nhà này đối với tôi giống như việc kết thúc một thời đại. Thật khó mà không cảm thấy buồn bã, luyến tiếc. Vì nơi đây đã cho tôi biết bao kinh nghiệm và ký ức tuyệt đẹp về mọi người.
Khi việc mua bán đã hoàn tất, tôi chuyển toàn bộ số tiền cho Zappos mà lòng cảm thấy nhẹ nhõm. Chúng tôi có thể sống sót thêm 6 tháng nữa trước khi cần thêm tiền.
Chiến lược kết hợp dự trữ sản phẩm với chuyển trực tiếp sản phẩm cho khách hàng tiếp tục giúp chúng tôi đẩy mạnh doanh thu. Chúng tôi đã đạt 32 triệu đô la doanh thu vào năm 2002, gấp 4 lần năm trước. Tuy nhiên, chúng tôi biết tình hình vẫn còn căng thẳng. Chúng tôi thuyết phục các nhà cung cấp gia hạn thanh toán tiền hàng. Tôi tiếp tục gọi cho Wells Fargo để vay thêm tiền, hy vọng họ sẽ không từ chối thẳng thừng như các ngân hàng khác. Nhờ niềm tin của họ vào sự đam mê của chúng tôi dành cho việc kinh doanh, mặc dù nội bộ Wells Fargo có nhiều tranh cãi, cuối cùng, tháng 6 năm 2003 họ cho chúng tôi vay 6 triệu đô la. Cả công ty chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Chúng tôi đã thoát nạn. Cứ như một giấc mơ.
Chúng tôi kết thúc năm 2003 với tổng doanh số đạt 70 triệu đô la, vượt kế hoạch. Để thưởng cho tất cả mọi người, chúng tôi tổ chức một cuộc du lịch đến Las Vegas. Chuyến đi cũng là một bước ngoặt của công ty. Tháng sau, chúng tôi quyết định đóng cửa trụ sở và chuyển toàn bộ văn phòng từ San Francisco tới Las Vegas.
5 – Tiền đề cho sự phát triển: Thương hiệu, văn hóa, lực lượng nòng cốt
Lúc chúng tôi ở Las Vegas, không thể dựa dẫm vào bất cứ ai. Vì thế, văn hóa công ty trở thành ưu tiên số một. Chúng tôi yêu cầu tất cả nhân viên viết ra ý nghĩa về Zappos đối với họ, sau đó, chúng tôi tập hợp các ý tưởng thành sổ tay văn hóa Zappos. Hằng năm, chúng tôi đều tái bản và tặng cho nhân viên, nhà cung cấp và khách hàng tiềm năng. Cuốn sách này bao gồm các ý khen, chê một cách chân thật, mỗi lần tái bản chúng ta sẽ dễ dàng biết được văn hóa Zappos biến đổi như thế nào theo thời gian.
Công ty luôn tâm niệm văn hóa là một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh, nó thể hiện sự nhất quán giữa lời nói và hành động, và đó chính là thương hiệu của Zappos.
Nét nổi bật của văn hóa Zappos là dịch vụ chăm sóc khách hàng. Ngày nay, người ta xem “truyền thông xã hội” và “marketing tổng hợp” là biện pháp gây chú ý. Họ xem điện thoại là loại công nghệ thấp, nhưng chúng tôi tin điện thoại là thiết bị gây ấn tượng tốt nhất. Qua điện thoại, bạn thu hút khách hàng năm, mười phút nếu bạn trình bày hợp lý, tạo cảm xúc, gây bất ngờ, khách hàng sẽ nhớ mãi và kể lại với bạn bè. Mọi sự tương tác được thực hiện vì mục tiêu xây dựng thương hiệu chứ không phải mục tiêu giảm chi phí. Đó là sự khác biệt của chúng tôi. Nên chúng tôi chỉ quan tâm xem nhân viên của mình có thực sự mang lại sự hài lòng hơn cả mong đợi cho mọi khách hàng hay không.
Ngày nay, nhờ kết nối internet, người ta sẽ chia sẻ gần như ngay lập tức một trải nghiệm tuyệt vời về một công ty nào đó cho hàng triệu người, trong lúc đó quảng cáo chỉ có tác dụng mức độ nhất định.
Vậy, văn hóa chính là thương hiệu của bạn.
Việc xác định rõ các giá trị cốt lõi của Zappos trở nên rất quan trọng để có thể phát triển văn hóa, thương hiệu. Chúng tôi muốn nhân viên thực hiện bất cứ công việc nào cũng đều dựa trên mười giá trị cốt lõi đó là: Luôn mang đến sự bất ngờ thông qua dịch vụ khách hàng, nắm lấy thời cơ và thay đổi, tạo ra sự thú vị và một chút gì đó khác thường, mạo hiểm sáng tạo và cởi mở, không ngừng học hỏi và hoàn thiện mình, thiết lập những mối quan hệ cởi mở và chân thành với giới truyền thông, xây dựng tinh thần gia đình và đồng đội lành mạnh, làm việc hiệu quả, đam mê và quyết tâm, khiêm tốn.
Chúng tôi chú trọng vào việc xây dựng tài sản của mình là những lực lượng nòng cốt ở mỗi phòng ban với những mức độ, kỹ năng và kinh nghiệm khác nhau. Nếu không ngừng học hỏi và hoàn thiện bản thân cả về tính cách lẫn trình độ chuyên môn, các nhân viên sẽ không trụ lại công ty. Từng phòng ban có những chương trình đào tạo riêng, nhóm lực lượng nòng cốt đào tạo cho toàn công ty. Các nhân viên buộc phải tham gia vào nhiều khóa học để được thăng tiến.
Chiến lược thương hiệu, văn hóa, lực lượng nồng cốt của mình là bệ phóng cần thiết để Zappos tồn tại và phát triển bền vững.
Phần III: Lợi nhuận, đam mê và mục tiêu
6 – Bước sang một vị thế mới
Chúng tôi vẫn tiếp tục làm những công việc mình vẫn làm: liên tục cải thiện dịch vụ khách hàng đồng thời củng cố văn hóa của công ty. Nhưng đôi lúc có những phóng viên viết về chúng tôi, và khi giới truyền thông nhắc đến nhiều hơn, tôi được các cuộc hội thảo mời phát biểu. Tôi cố gắng rèn luyện kỹ năng phát biểu trước công chúng, việc phát biểu này ảnh hưởng tích cực, tạo được những mối quan hệ và cơ hội kinh doanh tuyệt vời. Từ những phản hồi, chúng tôi lập ra “Zappos sáng suốt”, một dịch vụ video trực tuyến và “chương trình phát ngôn trực tiếp của Zappos”. Chúng tôi nhận ra mình đang ở một vị thế tuyệt vời.
Nhưng chúng tôi có những lúc rất khó khăn trong việc thuyết phục hội đồng quản trị (bao gồm cả các nhà đầu tư) đồng tình với những hoạt động của chúng tôi. Phần lớn các thành viên trong hội đồng quản trị muốn chúng tôi chỉ chú trọng vào kết quả tài chính. Từ chối yêu cầu của họ sẽ khiến tôi có nguy cơ bị sa thải. Mà Alfred, Fred và tôi thì không muốn bán công ty. Tôi nhận ra mình đang học lại bài học đã từng rút ra từ Link Exchange.
Chúng tôi đang nghĩ cách giải quyết các vấn đề liên quan đến hội đồng quản trị, đây là một thử thách phải vượt qua. Chúng tôi sẽ mua lại hội đồng quản trị.
Chúng tôi tính toán rằng, để mua được quyền kiểm soát hội đồng quản trị, chúng tôi cần khoảng 200 triệu đô la. Trong lúc đang tìm các nhà đầu tư tiềm năng thì Amazon liên lạc với chúng tôi. Về phía Amazon, dường như họ có cách nhìn cởi mở hơn khi biết chúng tôi muốn tiếp tục điều hành công ty với tư cách là một thực thể độc lập với một nền văn hóa và phương cách điều hành Zappos theo cách chúng tôi muốn.
Chúng tôi đẩy mạnh quá trình giao dịch toàn bộ cổ phiếu, nghĩa là các cổ đông của Zappos chỉ đơn giản đổi lấy cổ phiếu của Amazon. Với chúng tôi, điều này giống tinh thần hôn nhân, tương tự như các cặp vợ chồng có chung một tài khoản ở ngân hàng vậy.
Chúng tôi đã tìm ra con đường để mang lại hạnh phúc cho tất cả mọi người. Chúng tôi có thể hợp tác cùng nhau để kết hợp sức mạnh của nghệ thuật và khoa học, của quan hệ khách hàng và công nghệ cao. Tương lai đang chờ đón chúng tôi.
7 – Kết thúc trò chơi
Mục tiêu trong cuộc sống của bạn là gì? Bất kể câu trả lời của bạn như thế nào, tôi muốn bạn hãy trả lời câu hỏi tiếp theo: “Tại sao?”, rồi bạn cứ tiếp tục hỏi “Tại sao?”. Cứ liên tục trả lời những câu hỏi đó, bạn sẽ tìm ra câu trả lời mà hầu hết chúng ta đều chấp nhận là “Tìm hạnh phúc trong cuộc sống”.
Tôi đã đọc các tác phẩm bàn về hạnh phúc của các nhà tâm lý học, tôi thực sự bị lôi cuốn, tôi đã áp dụng mọi thứ trong khoa học này vào Zappos. Niềm hạnh phúc của khách hàng khi nhận được món hàng rất vừa ý, nhanh chóng, bất kể ngày hay đêm. Niềm hạnh phúc của nhân viên Zappos khi một phần của nền văn hóa và các giá trị cốt lõi của công ty phù hợp với các giá trị của bản thân họ.
Zappos muốn mang lại hạnh phúc cho cả thế giới này.
Trong thực tế, thứ hạnh phúc mà mọi người nghĩ họ sẽ đạt được sẽ tan biến đi nhanh chóng, nghĩa là không mang lại sự hạnh phúc bền vững cho họ.
Vậy bạn phải tự vấn mình, liệu điều bạn muốn theo đuổi có thực sự đem lại hạnh phúc cho bạn không?
Khoa học nghiên cứu về hạnh phúc cũng cho thấy có những điều có thể khiến bạn hạnh phúc hơn mà bạn không nhận ra được.
Thực ra hạnh phúc bao gồm bốn vấn đề: kiểm soát được số phận, kiểm soát được sự tiến bộ của bản thân, sự kết nối sâu sắc của các mối quan hệ và tầm nhìn hay ý nghĩa của nó lớn hơn bản thân mình.
Tháp nhu cầu Maslow thực hiện mức độ nhu cầu của con người từ thấp đến cao (nhu cầu vật chất, phi vật chất, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện: hoàn thiện, độc lập, sáng tạo, đạo đức…). Tuy nhiên, ba điều kiện để hạnh phúc thể hiện là: niềm vui, đam mê và mục tiêu cao hơn. Sự biểu hiện dạng niềm vui thì ngắn ngủi, khi nguồn động lực mất thì mức độ hạnh phúc giảm xuống. Hạnh phúc được biểu hiện qua sự đam mê coi như một dòng chảy, nó kéo dài hơn. Mục tiêu cao hơn là một trong những điều có ý nghĩa và lớn hơn cả bản thân bạn, nghiên cứu cho thấy đây là dạng hạnh phúc kéo dài lâu nhất.
Điểm tương đồng giữa những phát hiện con người hạnh phúc (niềm vui, đam mê, mục tiêu) và những phát hiện khiến các công ty trở thành những công ty lớn vững bền (lợi nhuận, đam mê, mục tiêu) là một trong những điều thú vị nhất mà tôi khám phá được. Tôi mong rằng, các doanh nhân trẻ, những công ty mới thành lập có cảm hứng lấy hạnh phúc là giá trị cốt lõi trong các mô hình kinh doanh của bạn, như những bài học mà tôi đã tổng kết được tại Zappos.
Nếu hạnh phúc là mục tiêu của tất cả mọi người, thì tại sao chúng ta lại không thể thay đổi được thế giới và khiến tất cả mọi người, mọi công việc kinh doanh đều trở nên tốt đẹp hơn!

Người tóm tắt: TRẦN PHÚ AN (nhuongquyenvietnam.com)